Chạy đua vũ trang(11)
Xếp hạng các “đại gia” bán vũ khí
Viện nghiên cứu các vấn đề thế
giới Stockholm (SIPRI) vừa công bố danh sách 100 hãng bán vũ khí lớn nhất thế
giới. Trong số này Nga chiếm 11 hãng, nhưng chỉ có 1 hãng lọt vào top
20.
Tuy chỉ có 11 hãng trong top
100, nhưng điều này cho thấy các "đại gia" sản xuất vũ khí của Nga đang ngày
càng khẳng định vị thế. Nếu như năm 2008 chỉ có 7 hãng của Nga, thì tới năm 2009
là 9 hãng. Và trong danh sách năm 2010 mà SIPRI vừa công bố, Nga có tới 11 hãng.
Điều này tương ứng với tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Nga: từ 6,7 tỉ USD
năm 2008 lên 10 tỉ USD năm 2010.

Máy bay Su-30MK
- Ảnh:sukhoi.org
Xin được nói ngay là hiện nay
tuy đang là năm 2012, nhưng SIPRI mới công bố số liệu của năm 2010. Điều này có
lý do của nó. Khi làm bảng xếp hạng, SIPRI căn cứ vào doanh số bán vũ khí, khí
tài của các hãng bán ra trong nội địa cũng như trên thị trường thế giới. Ngoài
ra, còn phải thu thập thông tin về hoạt động của các hãng này cũng như "sức
khỏe" tài chính của họ. Danh sách 100 hãng sản xuất và bán vũ khí hàng đầu thế
giới công bố khá chậm, bởi SIPRI còn phải kiểm tra và kiểm chứng lại các thông
tin, số liệu đã thu thập được. Như vậy, bảng xếp hạng năm 2011 sẽ chỉ được công
bố vào năm 2013.
Gấu Nga trỗi
dậy
Trong top 100 của năm 2010 có
11 hãng của Nga. Trong số này có 1 hãng lọt vào top 20 nhờ có doanh số bán hàng
cao. Đó là hãng PVO Almaz Antey, chuyên sản xuất hệ thống tên lửa không đối
không và hệ thống tên lửa phòng thủ. Trong năm 2010, Almaz Antey đứng thứ 20 khi
bán được 3,95 tỉ USD vũ khí, nhiều hơn 690 triệu USD so với năm 2009 (đứng thứ
23).
Ở vị trí thứ 21 là Liên hiệp
xây dựng hàng không - OAK, bán được 3,44 tỉ USD vũ khí khí tài. Tuy thế, tổng
doanh thu của OAK trong năm 2010 là 4,22 tỉ USD, phần bán vũ khí (3,44 tỉ USD)
chiếm 82%. Vị trí thứ 47 là hãng Trực thăng Nga, bán được 1,91 tỉ USD sản phẩm,
chiếm 71% tổng doanh thu của hãng này. Vị trí 51 thuộc về Liên hiệp đóng tàu
(OSK), bán được 1,65 tỉ USD vũ khí, chiếm 70% tổng doanh thu.

Máy
bay Su-32
Liên hiệp xây lắp động cơ -
ODK, bán được 1,25 tỉ USD vũ khí, chiếm vị trí thứ 62 trong bảng xếp hạng. Đáng
chú ý là doanh thu bán vũ khí chỉ chiếm 44% tổng doanh thu của ODK. Tuy khá
khiêm tốn, nhưng ODK lại tiến bước dài trên bảng xếp hạng, từ vị trí 91 của năm
trước nhảy lên gần 30 bậc. Tập đoàn Tên lửa chiến thuật - TRV, đứng ở vị trí 69
(tụt một bậc so với năm trước), bán ra thị trường 1,01 tỉ USD vũ khí, chiếm 90%
tổng doanh thu của tập đoàn này.
Nhà sản xuất xe tăng và toa xe
đường sắt Uralvagonzavod bán được 730 triệu USD, chiếm vị trí 89. Nhà máy này có
mức bán vũ khí thấp nhất so với các hãng khác của Nga, chỉ chiếm 40% tổng doanh
thu. Điều này phản ánh thực trạng là Bộ Quốc phòng Nga cũng như khách hàng nước
ngoài không đặt mua nhiều các xe tăng hạng nặng cũng như các toa xe đường sắt. Ở
vị trí 92 là hãng sản xuất động cơ Salyut, bán được 690 triệu USD sản phẩm,
chiếm 95 % tổng doanh thu của hãng này.
Ngoài top 100, Nga còn góp mặt
các hãng tên tuổi khác: Sukhoi (1,36 tỉ USD), Yarkut (1,33 tỉ USD),
Sevmaspredpriatie (1,24 tỉ USD). Tuy nhiên, các hãng này không được xếp hạng vì
thuộc OAK và OSK - đã có mặt trong top 100.
Có thể dự báo trong top 100 của
năm 2011, số lượng các hãng của Nga góp mặt sẽ tăng lên đáng kể. Bởi tổng kim
ngạch xuất khẩu của năm 2011 đạt 13,2 tỉ USD.
Mỹ vẫn dẫn
đầu
Nói về xuất khẩu vũ khí, chưa
quốc gia nào có thể qua mặt Mỹ. Chính vì thế mà không có gì đáng ngạc nhiên khi
hãng Lockheed Martin đứng đầu top 10 do bán được 35,73 tỉ USD vũ khí, khí tài.
Vị trí thứ 2 thuộc về BAE Systems (Anh) với 32,88 tỉ USD. Từ vị trí thứ 3 đến
thứ 6 lần lượt là các hãng của Mỹ: Boeing (31,26 tỉ USD), Northrop Grumman
(28,15 tỉ USD), General Dynamics (23,94 tỉ USD) và Raytheon (22,98 tỉ
USD).
Vị trí thứ 7 theo SIPRI là hãng
EADS của châu Âu, bán được 16,36 tỉ USD vũ khí, khí tài. Tiếp theo đó là
Finmeccanica của Ý với 14,41 tỉ USD. Vị trí thứ 9 và thứ 10 lần lượt thuộc về
hai hãng của Mỹ là L-3 (13,07 tỉ USD) và United Technologies (11,41 tỉ
USD).

Chiếc F-35A của hãng
Lockheed Martin - Ảnh:
lockheedmartin.com
Đề cập đến các vị trí thủ lĩnh
thì cũng không quên các hãng đứng chót: cùng được 660 triệu USD là Patria của
Phần Lan và Force Protection của Mỹ. Thấp hơn một chút - 650 triệu USD là hãng
GenCorp và AAR và cuối cùng là MTU Aero Engines của Đức với 640 triệu USD. Doanh
thu từ bán vũ khí của toàn thế giới năm 2010 là 230 tỉ USD, chiếm 56% tổng doanh
thu của các hãng góp mặt trong top 100.
Bảng xếp hạng của SIPRI được
nhà xuất bản SIPRI Yearbook công bố hằng năm. Trong mùa xuân này còn 2 ấn phẩm
nữa sẽ được ấn hành là Báo cáo về việc cung cấp khí tài cho các quốc gia và
Thống kê chi phí quân sự của các nước trên thế giới.
Các hãng của Nga trong bảng
xếp hạng SIPRI (Top 100 năm
2010)
Vị
trí
hãng
Doanh số bán
vũ khí *
Tổng doanh
thu
% tổng doanh
thu
20
Almaz
Antey
3.950
4.436
89
21
OAK
3.440
4.222
82
47
Trực thăng
Nga
1.910
2.677
71
51
OSK
1.650
2.359
70
62
ODK
1.250
2.805
44
69
TRV
1.010
1.120
90
89
Uralvagonzavod
730
1.814
40
92
Salyut
690
490
95
-
Sukhoi
1.360
1.466
93
-
Yarkut
1.330
1.548
86
-
Sevmaspredpriatie
1.240
1.381
90
* triệu
USD
Ông Vương
Hoàng
Tuy chỉ có 11 hãng trong top 100, nhưng điều này cho thấy các "đại gia" sản xuất vũ khí của Nga đang ngày càng khẳng định vị thế. Nếu như năm 2008 chỉ có 7 hãng của Nga, thì tới năm 2009 là 9 hãng. Và trong danh sách năm 2010 mà SIPRI vừa công bố, Nga có tới 11 hãng. Điều này tương ứng với tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Nga: từ 6,7 tỉ USD năm 2008 lên 10 tỉ USD năm 2010.
|
Máy bay Su-30MK - Ảnh:sukhoi.org |
Gấu Nga trỗi dậy
Trong top 100 của năm 2010 có 11 hãng của Nga. Trong số này có 1 hãng lọt vào top 20 nhờ có doanh số bán hàng cao. Đó là hãng PVO Almaz Antey, chuyên sản xuất hệ thống tên lửa không đối không và hệ thống tên lửa phòng thủ. Trong năm 2010, Almaz Antey đứng thứ 20 khi bán được 3,95 tỉ USD vũ khí, nhiều hơn 690 triệu USD so với năm 2009 (đứng thứ 23).
Ở vị trí thứ 21 là Liên hiệp xây dựng hàng không - OAK, bán được 3,44 tỉ USD vũ khí khí tài. Tuy thế, tổng doanh thu của OAK trong năm 2010 là 4,22 tỉ USD, phần bán vũ khí (3,44 tỉ USD) chiếm 82%. Vị trí thứ 47 là hãng Trực thăng Nga, bán được 1,91 tỉ USD sản phẩm, chiếm 71% tổng doanh thu của hãng này. Vị trí 51 thuộc về Liên hiệp đóng tàu (OSK), bán được 1,65 tỉ USD vũ khí, chiếm 70% tổng doanh thu.
|
Máy bay Su-32 |
Nhà sản xuất xe tăng và toa xe đường sắt Uralvagonzavod bán được 730 triệu USD, chiếm vị trí 89. Nhà máy này có mức bán vũ khí thấp nhất so với các hãng khác của Nga, chỉ chiếm 40% tổng doanh thu. Điều này phản ánh thực trạng là Bộ Quốc phòng Nga cũng như khách hàng nước ngoài không đặt mua nhiều các xe tăng hạng nặng cũng như các toa xe đường sắt. Ở vị trí 92 là hãng sản xuất động cơ Salyut, bán được 690 triệu USD sản phẩm, chiếm 95 % tổng doanh thu của hãng này.
Ngoài top 100, Nga còn góp mặt các hãng tên tuổi khác: Sukhoi (1,36 tỉ USD), Yarkut (1,33 tỉ USD), Sevmaspredpriatie (1,24 tỉ USD). Tuy nhiên, các hãng này không được xếp hạng vì thuộc OAK và OSK - đã có mặt trong top 100.
Có thể dự báo trong top 100 của năm 2011, số lượng các hãng của Nga góp mặt sẽ tăng lên đáng kể. Bởi tổng kim ngạch xuất khẩu của năm 2011 đạt 13,2 tỉ USD.
Mỹ vẫn dẫn đầu
Nói về xuất khẩu vũ khí, chưa quốc gia nào có thể qua mặt Mỹ. Chính vì thế mà không có gì đáng ngạc nhiên khi hãng Lockheed Martin đứng đầu top 10 do bán được 35,73 tỉ USD vũ khí, khí tài. Vị trí thứ 2 thuộc về BAE Systems (Anh) với 32,88 tỉ USD. Từ vị trí thứ 3 đến thứ 6 lần lượt là các hãng của Mỹ: Boeing (31,26 tỉ USD), Northrop Grumman (28,15 tỉ USD), General Dynamics (23,94 tỉ USD) và Raytheon (22,98 tỉ USD).
Vị trí thứ 7 theo SIPRI là hãng EADS của châu Âu, bán được 16,36 tỉ USD vũ khí, khí tài. Tiếp theo đó là Finmeccanica của Ý với 14,41 tỉ USD. Vị trí thứ 9 và thứ 10 lần lượt thuộc về hai hãng của Mỹ là L-3 (13,07 tỉ USD) và United Technologies (11,41 tỉ USD).
|
Chiếc F-35A của hãng Lockheed Martin - Ảnh: lockheedmartin.com |
Bảng xếp hạng của SIPRI được nhà xuất bản SIPRI Yearbook công bố hằng năm. Trong mùa xuân này còn 2 ấn phẩm nữa sẽ được ấn hành là Báo cáo về việc cung cấp khí tài cho các quốc gia và Thống kê chi phí quân sự của các nước trên thế giới.
|
Các hãng của Nga trong bảng
xếp hạng SIPRI (Top 100 năm
2010)
| |||||
|
Vị
trí
|
hãng
|
Doanh số bán
vũ khí *
|
Tổng doanh
thu
|
% tổng doanh
thu
| |
|
20
|
Almaz Antey |
3.950
|
4.436
|
89
| |
|
21
|
OAK |
3.440
|
4.222
|
82
| |
|
47
|
Trực thăng Nga |
1.910
|
2.677
|
71
| |
|
51
|
OSK |
1.650
|
2.359
|
70
| |
|
62
|
ODK |
1.250
|
2.805
|
44
| |
|
69
|
TRV |
1.010
|
1.120
|
90
| |
|
89
|
Uralvagonzavod |
730
|
1.814
|
40
| |
|
92
|
Salyut |
690
|
490
|
95
| |
|
| |||||
|
-
|
Sukhoi |
1.360
|
1.466
|
93
| |
|
-
|
Yarkut |
1.330
|
1.548
|
86
| |
|
-
|
Sevmaspredpriatie |
1.240
|
1.381
|
90
| |
|
* triệu
USD
| |||||
Ông Vương
Hoàng
Đua nhau mua sắm vũ khí
Theo báo cáo mới nhất của Viện
Nghiên cứu hòa bình quốc tế Thụy Điển (SIPRI), từ năm 2007 - 2011, 5 nước gồm Ấn
Độ, Hàn Quốc, Pakistan, Trung Quốc và Singapore nhập khẩu nhiều vũ khí nhất,
chiếm 30% tổng lượng nhập khẩu vũ khí trên toàn cầu.
Trong vòng 5 năm qua, Trung
Quốc tăng gấp đôi lượng xuất khẩu vũ khí, đứng thứ sáu trên thế giới (sau Vương
quốc Anh) về xuất khẩu vũ khí. Cũng chính vì thế mà Trung Quốc không còn là nước
nhập khẩu vũ khí nhiều nhất tại châu Á cũng như trên thế giới.
Cần nhắc lại rằng, từ năm 1950,
hằng năm SIPRI đều xếp hạng các quốc gia nhập khẩu vũ khí, khí tài trên thế
giới. Ngoài việc nghiên cứu xu hướng mua bán vũ khí hằng năm, SIPRI còn đưa ra
số liệu từng 5 năm một trong lĩnh vực này. Khi đưa ra số liệu của 5 năm
2007-2011, SIPRI tính theo giá trị đồng USD của năm 1990.

Chiếc
Rafale của Pháp đã thắng thầu tại Ấn Độ cách nay không lâu - Ảnh:
99con.com
Trong 5 năm qua, Ấn Độ chi
12,65 tỉ USD (21,77 tỉ USD tính theo giá trị năm 2011) mua vũ khí, khí tài của
nước ngoài, chiếm 10% tổng lượng nhập khẩu vũ khí toàn cầu và trở thành nước mua
vũ khí nhiều nhất thế giới. Những vũ khí họ mua nhiều nhất là vũ khí khí tài
hàng không, xe tăng, xe bọc thép và tên lửa. Chỉ riêng nhập khẩu máy bay chiến
đấu và trực thăng, New Delhi đã chi 9,03 tỉ USD, chi mua xe tăng, xe bọc thép
1,22 tỉ USD và 959 triệu USD cho tên lửa. Ngoài ra, Ấn Độ còn chi 492 triệu USD
để nhập khẩu radar và các phương tiện quan sát, do thám, 347 triệu USD mua tàu
chiến; 294 triệu USD cho hệ thống phòng không.
Nước cung cấp vũ khí, khí tài
lớn nhất cho Ấn Độ là Nga với tổng giá trị các đơn xuất hàng là 10,06 tỉ USD.
Tuy thế, thời gian tới rất có thể vị trí này của Nga sẽ thay đổi. Hiện Bộ Quốc
phòng Ấn Độ đang tích cực tìm kiếm mua vũ khí của các nước khác. Chẳng hạn, cách
đây không lâu chiếc Mig-35 của Nga đã thua chiếc Rafale của Pháp trong cuộc đấu
thầu bán 126 chiếc cho Ấn Độ. Tương tự là chiếc trực thăng MI-28 của Nga thua
chiếc AH-64D của Mỹ trong cuộc đấu thầu khác tại Ấn Độ.
Bốn nước còn lại là Hàn Quốc,
Pakistan, Trung Quốc và Singapore lần lượt chi 7,09 tỉ USD; 6,92 tỉ USD; 6,33 tỉ
USD và 5,13 tỉ USD để nhập khẩu vũ khí. Trong đó, Hàn Quốc chiếm 6% tổng lượng
nhập khẩu vũ khí toàn cầu, Trung Quốc và Pakistan là 5%, Singapore là
4%.
Theo số liệu của SIPRI, trong 5
năm 2002-2006, Trung Quốc chiếm vị trí đầu tiên trong nhập khẩu vũ khí khi chi
14,95 tỉ USD (theo thời giá năm 1990), (giai đoạn này xuất khẩu vũ khí của Trung
Quốc đạt 2,43 tỉ USD). Đến giai đoạn 2006 - 2010, nước này tụt xuống vị trí thứ
hai khi chi 6,15 tỉ USD (xuất khẩu 3,98 tỉ USD) và từ năm 2007-2011 kim ngạch
xuất khẩu vũ khí của Trung Quốc là 4,74 tỉ USD.
Trong vòng 5 năm qua, Trung
Quốc bán được 1,78 tỉ USD vũ khí khí tài hàng không, 965 triệu USD - xe tăng, xe
bọc thép; 805 triệu USD - tàu chiến... Còn vũ khí nhập khẩu của Trung Quốc là
tên lửa (1,98 tỉ USD); khí tài hàng không (1,52 tỉ USD); hệ thống phòng không
(1,25 tỉ USD); động cơ (1,02 tỉ USD - tính theo giá trị đồng USD năm
1990).
Trong 10 năm gần đây, công
nghiệp quốc phòng của Trung Quốc có bước phát triển nhảy vọt. Trong đó Pakistan
là khách hàng lớn của Trung Quốc. Trong giai đoạn 2007-2011, Pakistan chi 2,93
tỉ USD để mua vũ khí của Trung Quốc, tiếp đến là Iran (348 triệu USD) và
Bangladesh 238 triệu USD. Với Pakistan, Mỹ chỉ là quốc gia đứng thứ hai khi bán
được 2,39 tỉ USD vũ khí, khí tài cho nước này từ 2007-2011. Đứng thứ ba là Thụy
Điển với 358 triệu USD.
Tăng T-90 của
Nga được nhiều nước ưa chuộng
Cuộc chạy đua mua sắm vũ khí
của Trung Quốc, Pakistan và Ấn Độ cho thấy xu hướng đối đầu của ba nước này.
Trung Quốc và Pakistan là đồng minh và đều đang có tranh chấp lãnh thổ với Ấn
Độ. Theo SIPRI, vào năm 2006, ngân sách quốc phòng của Ấn Độ là 28,36 tỉ USD,
còn vào năm 2010 đã là 34,82 tỉ USD. Với Trung Quốc chỉ số tương ứng là 72,7 và
114,3 tỉ USD. Còn ngân sách quốc phòng của Pakistan hầu như không đổi, gần 5,16
tỉ USD. Tuy nhiên, nước này còn nhận được sự trợ giúp quân sự của
Mỹ.
Nói đến người mua thì cũng nên
nhắc tới kẻ bán. Theo số liệu của SIPRI, từ năm 2007-2011, năm nước xuất khẩu vũ
khí lớn nhất thế giới là Mỹ, Nga, Đức, Pháp và Vương quốc Anh. Năm nước này
trong vòng 5 năm đã xuất 96,46 tỉ USD (tính theo giá năm 1990, tương đương
166,01 tỉ USD của năm 2011). Đứng đầu top 5 luôn là Mỹ, khi nước này có kim
ngạch xuất khẩu vũ khí đạt 39,13 tỉ USD; Nga - 30,52 tỉ USD; Đức - 11,79 tỉ USD,
Pháp - 9,78 tỉ USD và Vương quốc Anh 5,24 tỉ USD. Để tiện so sánh có thể đưa ra
con số trong giai đoạn 5 năm từ 2006-2010: Mỹ xuất khẩu 37 tỉ USD vũ khí, Nga -
28,1 tỉ USD, Đức - 13 tỉ USD, Pháp - 8,8 tỉ USD và Vương quốc Anh 4,9 tỉ
USD.
Tựu trung, trong 5 năm từ
2007-2011, châu Á và châu Đại Dương vẫn đứng đầu khi chiếm 44% tổng lượng nhập
khẩu vũ khí, khí tài của thế giới, châu Âu 19%, Trung Đông 17%, Nam và Bắc Mỹ
11%, châu Phi 9%. Còn 5 năm trước đó (2006-2010) châu Á và châu Đại Dương chiếm
43%, châu Âu 21%, Trung Đông 17%, Nam và Bắc Mỹ 12% và châu Phi 7%.
5 nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế
giới
Nước
2007
2008
2009
2010
2011
Tổng
Ấn Độ
2.213
1.804
2.200
2.851
3.582
12.650
Hàn Quốc
1.767
1.710
1.874
1.320
1.422
7.093
Pakistan
636
1.037
1.124
2.450
1.675
6.923
Trung
Quốc
1.758
1.683
1.054
718
1.112
6.325
Singapore
384
1.178
1.697
946
921
5.126
Nguồn: SIPRI – tính bằng triệu
USD
Ông Vương
Hoàng
|
|
|
|
Theo báo cáo mới nhất của Viện
Nghiên cứu hòa bình quốc tế Thụy Điển (SIPRI), từ năm 2007 - 2011, 5 nước gồm Ấn
Độ, Hàn Quốc, Pakistan, Trung Quốc và Singapore nhập khẩu nhiều vũ khí nhất,
chiếm 30% tổng lượng nhập khẩu vũ khí trên toàn cầu.
Trong vòng 5 năm qua, Trung Quốc tăng gấp đôi lượng xuất khẩu vũ khí, đứng thứ sáu trên thế giới (sau Vương quốc Anh) về xuất khẩu vũ khí. Cũng chính vì thế mà Trung Quốc không còn là nước nhập khẩu vũ khí nhiều nhất tại châu Á cũng như trên thế giới.
Cần nhắc lại rằng, từ năm 1950, hằng năm SIPRI đều xếp hạng các quốc gia nhập khẩu vũ khí, khí tài trên thế giới. Ngoài việc nghiên cứu xu hướng mua bán vũ khí hằng năm, SIPRI còn đưa ra số liệu từng 5 năm một trong lĩnh vực này. Khi đưa ra số liệu của 5 năm 2007-2011, SIPRI tính theo giá trị đồng USD của năm 1990.
Trong 5 năm qua, Ấn Độ chi
12,65 tỉ USD (21,77 tỉ USD tính theo giá trị năm 2011) mua vũ khí, khí tài của
nước ngoài, chiếm 10% tổng lượng nhập khẩu vũ khí toàn cầu và trở thành nước mua
vũ khí nhiều nhất thế giới. Những vũ khí họ mua nhiều nhất là vũ khí khí tài
hàng không, xe tăng, xe bọc thép và tên lửa. Chỉ riêng nhập khẩu máy bay chiến
đấu và trực thăng, New Delhi đã chi 9,03 tỉ USD, chi mua xe tăng, xe bọc thép
1,22 tỉ USD và 959 triệu USD cho tên lửa. Ngoài ra, Ấn Độ còn chi 492 triệu USD
để nhập khẩu radar và các phương tiện quan sát, do thám, 347 triệu USD mua tàu
chiến; 294 triệu USD cho hệ thống phòng không.
Nước cung cấp vũ khí, khí tài lớn nhất cho Ấn Độ là Nga với tổng giá trị các đơn xuất hàng là 10,06 tỉ USD. Tuy thế, thời gian tới rất có thể vị trí này của Nga sẽ thay đổi. Hiện Bộ Quốc phòng Ấn Độ đang tích cực tìm kiếm mua vũ khí của các nước khác. Chẳng hạn, cách đây không lâu chiếc Mig-35 của Nga đã thua chiếc Rafale của Pháp trong cuộc đấu thầu bán 126 chiếc cho Ấn Độ. Tương tự là chiếc trực thăng MI-28 của Nga thua chiếc AH-64D của Mỹ trong cuộc đấu thầu khác tại Ấn Độ.
Bốn nước còn lại là Hàn Quốc, Pakistan, Trung Quốc và Singapore lần lượt chi 7,09 tỉ USD; 6,92 tỉ USD; 6,33 tỉ USD và 5,13 tỉ USD để nhập khẩu vũ khí. Trong đó, Hàn Quốc chiếm 6% tổng lượng nhập khẩu vũ khí toàn cầu, Trung Quốc và Pakistan là 5%, Singapore là 4%.
Theo số liệu của SIPRI, trong 5 năm 2002-2006, Trung Quốc chiếm vị trí đầu tiên trong nhập khẩu vũ khí khi chi 14,95 tỉ USD (theo thời giá năm 1990), (giai đoạn này xuất khẩu vũ khí của Trung Quốc đạt 2,43 tỉ USD). Đến giai đoạn 2006 - 2010, nước này tụt xuống vị trí thứ hai khi chi 6,15 tỉ USD (xuất khẩu 3,98 tỉ USD) và từ năm 2007-2011 kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Trung Quốc là 4,74 tỉ USD.
Trong vòng 5 năm qua, Trung Quốc bán được 1,78 tỉ USD vũ khí khí tài hàng không, 965 triệu USD - xe tăng, xe bọc thép; 805 triệu USD - tàu chiến... Còn vũ khí nhập khẩu của Trung Quốc là tên lửa (1,98 tỉ USD); khí tài hàng không (1,52 tỉ USD); hệ thống phòng không (1,25 tỉ USD); động cơ (1,02 tỉ USD - tính theo giá trị đồng USD năm 1990).
Trong 10 năm gần đây, công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc có bước phát triển nhảy vọt. Trong đó Pakistan là khách hàng lớn của Trung Quốc. Trong giai đoạn 2007-2011, Pakistan chi 2,93 tỉ USD để mua vũ khí của Trung Quốc, tiếp đến là Iran (348 triệu USD) và Bangladesh 238 triệu USD. Với Pakistan, Mỹ chỉ là quốc gia đứng thứ hai khi bán được 2,39 tỉ USD vũ khí, khí tài cho nước này từ 2007-2011. Đứng thứ ba là Thụy Điển với 358 triệu USD.
Cuộc chạy đua mua sắm vũ khí
của Trung Quốc, Pakistan và Ấn Độ cho thấy xu hướng đối đầu của ba nước này.
Trung Quốc và Pakistan là đồng minh và đều đang có tranh chấp lãnh thổ với Ấn
Độ. Theo SIPRI, vào năm 2006, ngân sách quốc phòng của Ấn Độ là 28,36 tỉ USD,
còn vào năm 2010 đã là 34,82 tỉ USD. Với Trung Quốc chỉ số tương ứng là 72,7 và
114,3 tỉ USD. Còn ngân sách quốc phòng của Pakistan hầu như không đổi, gần 5,16
tỉ USD. Tuy nhiên, nước này còn nhận được sự trợ giúp quân sự của
Mỹ.
Nói đến người mua thì cũng nên nhắc tới kẻ bán. Theo số liệu của SIPRI, từ năm 2007-2011, năm nước xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới là Mỹ, Nga, Đức, Pháp và Vương quốc Anh. Năm nước này trong vòng 5 năm đã xuất 96,46 tỉ USD (tính theo giá năm 1990, tương đương 166,01 tỉ USD của năm 2011). Đứng đầu top 5 luôn là Mỹ, khi nước này có kim ngạch xuất khẩu vũ khí đạt 39,13 tỉ USD; Nga - 30,52 tỉ USD; Đức - 11,79 tỉ USD, Pháp - 9,78 tỉ USD và Vương quốc Anh 5,24 tỉ USD. Để tiện so sánh có thể đưa ra con số trong giai đoạn 5 năm từ 2006-2010: Mỹ xuất khẩu 37 tỉ USD vũ khí, Nga - 28,1 tỉ USD, Đức - 13 tỉ USD, Pháp - 8,8 tỉ USD và Vương quốc Anh 4,9 tỉ USD.
Tựu trung, trong 5 năm từ 2007-2011, châu Á và châu Đại Dương vẫn đứng đầu khi chiếm 44% tổng lượng nhập khẩu vũ khí, khí tài của thế giới, châu Âu 19%, Trung Đông 17%, Nam và Bắc Mỹ 11%, châu Phi 9%. Còn 5 năm trước đó (2006-2010) châu Á và châu Đại Dương chiếm 43%, châu Âu 21%, Trung Đông 17%, Nam và Bắc Mỹ 12% và châu Phi 7%.
Trong vòng 5 năm qua, Trung Quốc tăng gấp đôi lượng xuất khẩu vũ khí, đứng thứ sáu trên thế giới (sau Vương quốc Anh) về xuất khẩu vũ khí. Cũng chính vì thế mà Trung Quốc không còn là nước nhập khẩu vũ khí nhiều nhất tại châu Á cũng như trên thế giới.
Cần nhắc lại rằng, từ năm 1950, hằng năm SIPRI đều xếp hạng các quốc gia nhập khẩu vũ khí, khí tài trên thế giới. Ngoài việc nghiên cứu xu hướng mua bán vũ khí hằng năm, SIPRI còn đưa ra số liệu từng 5 năm một trong lĩnh vực này. Khi đưa ra số liệu của 5 năm 2007-2011, SIPRI tính theo giá trị đồng USD của năm 1990.
|
Chiếc Rafale của Pháp đã thắng thầu tại Ấn Độ cách nay không lâu - Ảnh: 99con.com |
Nước cung cấp vũ khí, khí tài lớn nhất cho Ấn Độ là Nga với tổng giá trị các đơn xuất hàng là 10,06 tỉ USD. Tuy thế, thời gian tới rất có thể vị trí này của Nga sẽ thay đổi. Hiện Bộ Quốc phòng Ấn Độ đang tích cực tìm kiếm mua vũ khí của các nước khác. Chẳng hạn, cách đây không lâu chiếc Mig-35 của Nga đã thua chiếc Rafale của Pháp trong cuộc đấu thầu bán 126 chiếc cho Ấn Độ. Tương tự là chiếc trực thăng MI-28 của Nga thua chiếc AH-64D của Mỹ trong cuộc đấu thầu khác tại Ấn Độ.
Bốn nước còn lại là Hàn Quốc, Pakistan, Trung Quốc và Singapore lần lượt chi 7,09 tỉ USD; 6,92 tỉ USD; 6,33 tỉ USD và 5,13 tỉ USD để nhập khẩu vũ khí. Trong đó, Hàn Quốc chiếm 6% tổng lượng nhập khẩu vũ khí toàn cầu, Trung Quốc và Pakistan là 5%, Singapore là 4%.
Theo số liệu của SIPRI, trong 5 năm 2002-2006, Trung Quốc chiếm vị trí đầu tiên trong nhập khẩu vũ khí khi chi 14,95 tỉ USD (theo thời giá năm 1990), (giai đoạn này xuất khẩu vũ khí của Trung Quốc đạt 2,43 tỉ USD). Đến giai đoạn 2006 - 2010, nước này tụt xuống vị trí thứ hai khi chi 6,15 tỉ USD (xuất khẩu 3,98 tỉ USD) và từ năm 2007-2011 kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Trung Quốc là 4,74 tỉ USD.
Trong vòng 5 năm qua, Trung Quốc bán được 1,78 tỉ USD vũ khí khí tài hàng không, 965 triệu USD - xe tăng, xe bọc thép; 805 triệu USD - tàu chiến... Còn vũ khí nhập khẩu của Trung Quốc là tên lửa (1,98 tỉ USD); khí tài hàng không (1,52 tỉ USD); hệ thống phòng không (1,25 tỉ USD); động cơ (1,02 tỉ USD - tính theo giá trị đồng USD năm 1990).
Trong 10 năm gần đây, công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc có bước phát triển nhảy vọt. Trong đó Pakistan là khách hàng lớn của Trung Quốc. Trong giai đoạn 2007-2011, Pakistan chi 2,93 tỉ USD để mua vũ khí của Trung Quốc, tiếp đến là Iran (348 triệu USD) và Bangladesh 238 triệu USD. Với Pakistan, Mỹ chỉ là quốc gia đứng thứ hai khi bán được 2,39 tỉ USD vũ khí, khí tài cho nước này từ 2007-2011. Đứng thứ ba là Thụy Điển với 358 triệu USD.
|
|
Nói đến người mua thì cũng nên nhắc tới kẻ bán. Theo số liệu của SIPRI, từ năm 2007-2011, năm nước xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới là Mỹ, Nga, Đức, Pháp và Vương quốc Anh. Năm nước này trong vòng 5 năm đã xuất 96,46 tỉ USD (tính theo giá năm 1990, tương đương 166,01 tỉ USD của năm 2011). Đứng đầu top 5 luôn là Mỹ, khi nước này có kim ngạch xuất khẩu vũ khí đạt 39,13 tỉ USD; Nga - 30,52 tỉ USD; Đức - 11,79 tỉ USD, Pháp - 9,78 tỉ USD và Vương quốc Anh 5,24 tỉ USD. Để tiện so sánh có thể đưa ra con số trong giai đoạn 5 năm từ 2006-2010: Mỹ xuất khẩu 37 tỉ USD vũ khí, Nga - 28,1 tỉ USD, Đức - 13 tỉ USD, Pháp - 8,8 tỉ USD và Vương quốc Anh 4,9 tỉ USD.
Tựu trung, trong 5 năm từ 2007-2011, châu Á và châu Đại Dương vẫn đứng đầu khi chiếm 44% tổng lượng nhập khẩu vũ khí, khí tài của thế giới, châu Âu 19%, Trung Đông 17%, Nam và Bắc Mỹ 11%, châu Phi 9%. Còn 5 năm trước đó (2006-2010) châu Á và châu Đại Dương chiếm 43%, châu Âu 21%, Trung Đông 17%, Nam và Bắc Mỹ 12% và châu Phi 7%.
| 5 nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới | ||||||
| Nước | 2007 | 2008 | 2009 | 2010 | 2011 | Tổng |
| Ấn Độ | 2.213 | 1.804 | 2.200 | 2.851 | 3.582 | 12.650 |
| Hàn Quốc | 1.767 | 1.710 | 1.874 | 1.320 | 1.422 | 7.093 |
| Pakistan | 636 | 1.037 | 1.124 | 2.450 | 1.675 | 6.923 |
| Trung Quốc | 1.758 | 1.683 | 1.054 | 718 | 1.112 | 6.325 |
| Singapore | 384 | 1.178 | 1.697 | 946 | 921 | 5.126 |
|
Nguồn: SIPRI – tính bằng triệu
USD
| ||||||
Ông Vương
Hoàng
Nga bội thu xuất khẩu vũ khíNgày 17.2 vừa qua, Nga chính thức công bố tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí 2011 đạt 13,2 tỉ USD, vượt kế hoạch đề ra khá nhiều.
Ông Mikhail Dmitriev - Giám đốc
Cơ quan hợp tác kỹ thuật quân sự liên bang Nga (FSVTS) cho biết, theo kế hoạch
xuất khẩu vũ khí Nga năm 2011 là 11,6 tỉ USD (năm 2010 là 10,4 tỉ USD), nên con
số 13,2 tỉ USD thật ấn tượng. Dự kiến xuất khẩu vũ khí năm 2012 của Nga là 13,5
tỉ USD. "Chúng tôi tin rằng kế hoạch này sẽ được hoàn thành", Mikhail Dmitriev
nói.

Su-30MK2
được nhiều quốc gia ưa chuộng
Trước đó, vào ngày 25.1, lãnh
đạo Tập đoàn Công nghệ Nga (Rostexnologia) - ông Chemezov cho biết, xuất khẩu vũ
khí Nga năm 2011 là 12 tỉ USD. Trong đó 10,7 tỉ USD là của Cơ quan xuất khẩu vũ
khí Nga Rosoboronexport, phần còn lại là của một số nhà máy quốc phòng bán phụ
tùng trực tiếp cho nước ngoài. Ông Mikhail Dmitriev cho biết thêm, khoảng 50%
giá trị xuất khẩu vũ khí thuộc về không quân, bộ binh chỉ chiếm 11%, phòng không
10% và hải quân 10%, còn lại là một chuyên ngành hẹp khác.
Giám đốc Rosoboronexport - ông
Anatoli Isaikin, vào ngày 2.2 vừa qua nói: Nga đạt kết quả cao xuất khẩu vũ khí
trong năm 2011 là do việc thực hiện và hoàn thành các hợp đồng đã ký kết với các
đối tác tốt. Theo lời ông Isaikin, Rosoboronexport đang nắm trong tay số lượng
hợp đồng mua bán vũ khí trị giá từ 33 - 35 tỉ USD. Còn theo đánh giá của Trung
tâm chiến lược và công nghệ Nga (SAST), tổng giá trị hợp đồng mua bán vũ khí của
Nga ký với các nước ngoài hiện là 41,5 tỉ USD.

Hàng
không mẫu hạm Vikramaditya
Năm 2011, Nga xuất khẩu vũ khí
cho 57 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Ấn Độ, Algeria, Trung Quốc,
Venezuela… Còn với các quốc gia như Lào, Mali, Singapore, Đức, Uruguay, Czech…
Rosoboronexport khôi phục lại quan hệ trong lĩnh vực cung cấp vũ khí, khí tài.
Một trong những hợp đồng có giá trị của Nga là bán máy bay chiến đấu Mig-29SE
cho Myanmar và máy bay tiêm kích Su-30MK2, xe bọc thép cho Uganda.
Ngoài ra, trong năm vừa qua,
Turkmenistan và Algeria còn ký hợp đồng mua xe tăng T-90S của Nga. Trong đó
Turkmenistan mua 30 chiếc, còn Algeria ký hợp đồng với Rosoboronexport mua 120
chiếc T-90S. Tổng giá trị hợp đồng là 500 triệu USD.

Tăng
T-72 là loại mà Venezuela sẽ mua của Nga. Ảnh:
Wikipedia
Nói đến thành công, nhưng không
quên thất bại. Vào năm 2011, do cuộc nội chiến của Libya, Nga mất hết các hợp
đồng trị giá khoảng 4 tỉ USD đã ký với nước này. Bên cạnh đó giới hàng không Nga
còn thua cuộc đấu thầu 126 chiếc máy bay tiêm kích thuộc dự án MMRCA của Ấn Độ
(chiến thắng cuối cùng thuộc về chiếc Rafale của Pháp). Thất bại tại Ấn Độ được
phía Rosoboronexport giải thích là do chiếc Mig-35, cạnh tranh với
Rafale, F-16C/D và F/A-18E/F (Mỹ), JAS 39 Gripen (Thụy Điển), Typhoon
(Eurofighter - châu Âu) chưa đi vào sản xuất hàng loạt.
Rất khó dự báo chính xác việc
Nga thực hiện hợp đồng xuất khẩu vũ khí đã ký với nước ngoài trong năm 2012.
Chẳng hạn, với Syria - một trong những nước mua nhiều vũ khí của Nga tại khu vực
Tây Á - hiện tình hình rất phức tạp, các phe phái và chính quyền đang tiến đến
bờ vực của cuộc nội chiến. Nga đang thực hiện hợp đồng cung cấp tên lửa cơ động
bờ biển Bastion và tên lửa hành trình siêu âm Yakhont cho Syria. Nga cũng đã ký
với Syria cung cấp 24 chiếc tiêm kích Mig-29M/M và 8 hệ thống tên lửa đất đối
không tầm trung Buk-M2E.
Trong bối cảnh phương Tây muốn
cấm vận vũ khí đối với Syria, thì hợp đồng mua bán vũ khí của Nga với nước này
luôn có nguy cơ bị phá vỡ. Theo lời Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga - Anatoli
Antonov, Nga sẽ tiếp tục cung cấp vũ khí cho Syria, trong khi vẫn tuân thủ các
quy định của quốc tế. Anatoli Antonov nói với hãng tin RIA - Novosti: Chúng tôi
không vi phạm các điều khoản cấm hay không cấm của quốc tế.
Dù vậy, FSVTS vẫn đánh giá khá
lạc quan xuất khẩu vũ khí của Nga trong năm 2011. Theo các nhà phân tích của tổ
chức này, kim ngạch xuất khẩu năm 2012 có thể còn vượt mức con số 13,5 tỉ USD mà
ông Mikhail Dmitriev thông báo và sẽ đạt 14 tỉ USD. Báo cáo của FSVTS ghi nhận,
tính đến tháng 2.2012, với các hợp đồng mua bán vũ khí đã được ký kết của Nga
với các đối tác, đảm bảo cho xuất khẩu vũ khí của Nga ổn định và tăng trưởng
trong vòng 3 năm tới.
Một trong những đối tác truyền
thống trong lĩnh vực này của Nga là Ấn Độ. Theo đánh giá của FSVTS, trong năm
2012, Nga sẽ cung cấp một lượng lớn vũ khí, khí tài cho Ấn Độ như 2 chiếc tàu
khu trục Talvar dự án 1135.6, hàng không mẫu hạm Vikramaditya (tàu Đô đốc
Gorshov trước đây), 40 máy bay trực thăng Mi-17V5 và Ka-31. Trước đó vào cuối
tháng 1.2012, hải quân Ấn Độ đã nhận từ Nga chiếc tàu ngầm chạy bằng năng lượng
hạt nhân trị giá 920 triệu USD.
Tính chung, theo đánh giá của
FSVTS, Nga sẽ xuất khẩu vũ khí, khí tài cho Ấn Độ với tổng kim ngạch gần 7,7 tỉ
USD. Con số này chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Nga năm 2012
và chiếm tới 80% tổng kim ngạch nhập khẩu của Ấn Độ trong năm này.
Trong năm 2012, Nga sẽ xuất
khẩu 50 chiếc Su-30 thuộc nhiều kiểu loại cho một số nước. Trong đó có 30 chiếc
Su- 30MKI sẽ cung cấp cho Ấn Độ, 8 chiếc Su-30MKA cho Algeria, 2 chiếc Su-30MK2
cho Indonesia, 2 chiếc Su-30MK2 cho Uganda… Ngoài ra, theo hợp đồng đã ký vào
năm 2011, Nga sẽ còn nâng cấp cho Ấn Độ từ 15 - 20 chiếc Su-30MKI.
Venezuela đã thỏa thuận mua xe
tăng T-72, xe bọc thép BTR-80 của Nga. Lãnh đạo Nga cho biết, để nâng cao sức
mạnh của quân đội, Tổng thống Hugo Chavez có thể sẽ chi 4 tỉ USD để mua vũ khí,
khí tài của xứ sở bạch dương.
Tuy mừng rỡ với việc vượt kế
hoạch xuất khẩu vũ khí khí tài năm 2011, nhưng Giám đốc FSVTS - Mikhail Dmitriev
lưu ý Nga còn kém xa Mỹ trong lĩnh vực này. Hiện Mỹ có tổng kim ngạch xuất khẩu
vũ khí, khí tài nhiều gấp 2,5 lần so với Nga. Theo một số nguồn thông tin, năm
2011 Mỹ đứng đầu thế giới về xuất khẩu trong lĩnh vực quân sự, đạt 34,8 tỉ
USD.
Ông Vương
Hoàng
|
Su-30MK2 được nhiều quốc gia ưa chuộng |
Giám đốc Rosoboronexport - ông Anatoli Isaikin, vào ngày 2.2 vừa qua nói: Nga đạt kết quả cao xuất khẩu vũ khí trong năm 2011 là do việc thực hiện và hoàn thành các hợp đồng đã ký kết với các đối tác tốt. Theo lời ông Isaikin, Rosoboronexport đang nắm trong tay số lượng hợp đồng mua bán vũ khí trị giá từ 33 - 35 tỉ USD. Còn theo đánh giá của Trung tâm chiến lược và công nghệ Nga (SAST), tổng giá trị hợp đồng mua bán vũ khí của Nga ký với các nước ngoài hiện là 41,5 tỉ USD.
|
Hàng không mẫu hạm Vikramaditya |
Ngoài ra, trong năm vừa qua, Turkmenistan và Algeria còn ký hợp đồng mua xe tăng T-90S của Nga. Trong đó Turkmenistan mua 30 chiếc, còn Algeria ký hợp đồng với Rosoboronexport mua 120 chiếc T-90S. Tổng giá trị hợp đồng là 500 triệu USD.
|
Tăng T-72 là loại mà Venezuela sẽ mua của Nga. Ảnh: Wikipedia |
Rất khó dự báo chính xác việc Nga thực hiện hợp đồng xuất khẩu vũ khí đã ký với nước ngoài trong năm 2012. Chẳng hạn, với Syria - một trong những nước mua nhiều vũ khí của Nga tại khu vực Tây Á - hiện tình hình rất phức tạp, các phe phái và chính quyền đang tiến đến bờ vực của cuộc nội chiến. Nga đang thực hiện hợp đồng cung cấp tên lửa cơ động bờ biển Bastion và tên lửa hành trình siêu âm Yakhont cho Syria. Nga cũng đã ký với Syria cung cấp 24 chiếc tiêm kích Mig-29M/M và 8 hệ thống tên lửa đất đối không tầm trung Buk-M2E.
Trong bối cảnh phương Tây muốn cấm vận vũ khí đối với Syria, thì hợp đồng mua bán vũ khí của Nga với nước này luôn có nguy cơ bị phá vỡ. Theo lời Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga - Anatoli Antonov, Nga sẽ tiếp tục cung cấp vũ khí cho Syria, trong khi vẫn tuân thủ các quy định của quốc tế. Anatoli Antonov nói với hãng tin RIA - Novosti: Chúng tôi không vi phạm các điều khoản cấm hay không cấm của quốc tế.
Dù vậy, FSVTS vẫn đánh giá khá lạc quan xuất khẩu vũ khí của Nga trong năm 2011. Theo các nhà phân tích của tổ chức này, kim ngạch xuất khẩu năm 2012 có thể còn vượt mức con số 13,5 tỉ USD mà ông Mikhail Dmitriev thông báo và sẽ đạt 14 tỉ USD. Báo cáo của FSVTS ghi nhận, tính đến tháng 2.2012, với các hợp đồng mua bán vũ khí đã được ký kết của Nga với các đối tác, đảm bảo cho xuất khẩu vũ khí của Nga ổn định và tăng trưởng trong vòng 3 năm tới.
Một trong những đối tác truyền thống trong lĩnh vực này của Nga là Ấn Độ. Theo đánh giá của FSVTS, trong năm 2012, Nga sẽ cung cấp một lượng lớn vũ khí, khí tài cho Ấn Độ như 2 chiếc tàu khu trục Talvar dự án 1135.6, hàng không mẫu hạm Vikramaditya (tàu Đô đốc Gorshov trước đây), 40 máy bay trực thăng Mi-17V5 và Ka-31. Trước đó vào cuối tháng 1.2012, hải quân Ấn Độ đã nhận từ Nga chiếc tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân trị giá 920 triệu USD.
Tính chung, theo đánh giá của FSVTS, Nga sẽ xuất khẩu vũ khí, khí tài cho Ấn Độ với tổng kim ngạch gần 7,7 tỉ USD. Con số này chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Nga năm 2012 và chiếm tới 80% tổng kim ngạch nhập khẩu của Ấn Độ trong năm này.
Trong năm 2012, Nga sẽ xuất khẩu 50 chiếc Su-30 thuộc nhiều kiểu loại cho một số nước. Trong đó có 30 chiếc Su- 30MKI sẽ cung cấp cho Ấn Độ, 8 chiếc Su-30MKA cho Algeria, 2 chiếc Su-30MK2 cho Indonesia, 2 chiếc Su-30MK2 cho Uganda… Ngoài ra, theo hợp đồng đã ký vào năm 2011, Nga sẽ còn nâng cấp cho Ấn Độ từ 15 - 20 chiếc Su-30MKI.
Venezuela đã thỏa thuận mua xe tăng T-72, xe bọc thép BTR-80 của Nga. Lãnh đạo Nga cho biết, để nâng cao sức mạnh của quân đội, Tổng thống Hugo Chavez có thể sẽ chi 4 tỉ USD để mua vũ khí, khí tài của xứ sở bạch dương.
Tuy mừng rỡ với việc vượt kế hoạch xuất khẩu vũ khí khí tài năm 2011, nhưng Giám đốc FSVTS - Mikhail Dmitriev lưu ý Nga còn kém xa Mỹ trong lĩnh vực này. Hiện Mỹ có tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí, khí tài nhiều gấp 2,5 lần so với Nga. Theo một số nguồn thông tin, năm 2011 Mỹ đứng đầu thế giới về xuất khẩu trong lĩnh vực quân sự, đạt 34,8 tỉ USD.
Ông Vương
Hoàng
Nhật phá luật xuất khẩu vũ khí
Sau 44 năm, Chính phủ Nhật Bản
vừa xem xét lại đạo luật cấm nước này xuất khẩu vũ khí và nới lỏng nhiều quy
định để có thể mua bán vũ khí trên thị trường quốc tế.
Giờ đây các hãng sản xuất vũ
khí của Nhật Bản có thể tham gia vào các chương trình thiết kế, sản xuất vũ khí
khí tài cũng như bán sản phẩm quân sự ra nước ngoài. Trước hết là tham dự một
phần vào việc triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Mỹ ở châu Âu và
thiết kế sản xuất máy bay tiêm kích đa năng F-35 Lighning II.
Cần nhắc lại rằng, đạo luật cấm
xuất khẩu vũ khí bao gồm ba điều khoản, có hiệu lực tại Nhật Bản từ năm 1967. Ba
điều khoản đó cấm các nhà máy quốc phòng của Nhật Bản bán vũ khí, khí tài cho
các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa, các quốc gia đang tham dự vào các xung đột
quốc tế và các quốc gia bị Liên Hiệp Quốc cấm vận vũ khí.
Đến năm 1976, ba điều khoản
được gộp làm một: Chính phủ Nhật Bản nghiêm cấm xuất khẩu bất cứ loại vũ khí khí
tài nào. Tuy thế, luật nào cũng có kẽ hở. Một số nhà máy của nước này vẫn có thể
bán cho Mỹ động cơ tên lửa và tham gia vào chương trình thiết kế tên lửa đánh
chặn của Mỹ.

Mô
hình chiếc ATD-X Shinshin của Nhật - Ảnh:
Wikipedia
Vì có luật cấm, nên năm 2010,
chương trình thiết kế tên lửa đánh chặn SM-3 Block IIA mà Mỹ và Nhật Bản hợp tác
đâm vào ngõ cụt. Chương trình còn đứng trước nguy cơ phải hủy bỏ. Theo thỏa
thuận, Nhật sẽ cung cấp động cơ tên lửa cho SM-3 và thiết kế chương trình bảo
vệ, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống phòng thủ Aegis như dự kiến SM-3 sẽ
được biên chế vào hệ thống này.
Không những thế, khi Mỹ định
xuất khẩu hệ thống phòng thủ chống tên lửa qua châu Âu thì Nhật phản đối kịch
liệt. Tokyo đã yêu cầu Washington phải có thỏa thuận nếu muốn xuất khẩu công
nghệ cho một nước thứ ba. Sự hợp tác Mỹ - Nhật trong chương trình này bắt đầu từ
năm 2004, còn các khảo sát, nghiên cứu được tiến hành trong những năm 2006 -
2009. Theo kế hoạch, chương trình được triển khai vào năm 2010, kéo dài khoảng 6
năm và chỉ có Mỹ - Nhật mới có toàn quyền sử dụng công nghệ của chương trình
này. Vào tháng 10.2009, ông Robert Gates khi đó là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã
yêu cầu người đồng nhiệm bên phía Nhật Bản - ông Tosimi Kitazawa, nới lỏng các
quy định để có thể xuất khẩu SM-3 sang châu Âu.

Xe
tăng Type 90 do Nhật sản xuất - Ảnh:
Wikipedia
Vào mùa xuân 2010, lần đầu tiên
Nhật Bản muốn nới lỏng các điều khoản cấm xuất khẩu vũ khí khi cho thành lập
nhóm soạn thảo các quy định mới trong lĩnh vực này. Tuy thế, đến tháng 12.2010,
mọi ý đồ bị phá sản hoàn toàn khi chính Chính phủ Nhật Bản phủ quyết chuyện này.
Sở dĩ như vậy, vì chính phủ muốn có sự ủng hộ của đảng Dân chủ xã hội, tổ chức
luôn chống lại việc cho phép xuất khẩu vũ khí, khí tài. Việc ủng hộ này tạo điều
kiện để Quốc hội Nhật Bản thông qua ngân sách năm 2011.
Sau một năm đóng băng, vào
tháng 12.2011, cuối cùng Nhật Bản cũng nới lỏng điều luật. Ngày 27.12, chính phủ
nước này thông báo đã xem xét lại các điều khoản cấm và từ nay trở đi, các hãng
của Nhật Bản có thể cùng Mỹ, Úc, Hàn Quốc, các nước thuộc NATO thực hiện các
chương trình quân sự và sản xuất vũ khí. Ngoài ra, các nhà máy có thể cung cấp
vũ khí, khí tài cho các nước để sử dụng trong các sứ mạng nhân đạo như chiến
dịch cứu hộ hay chở hàng hóa đến các khu vực bị thảm họa thiên nhiên. "Điều này
cho thấy giờ đây Nhật Bản có thể tích cực hơn trong các chiến dịch vì hòa bình
của quốc tế, đấu tranh với chủ nghĩa khủng bố và hải tặc", Thủ tướng Nhật
Yoshihiko Noda tuyên bố.
Nguyên nhân để Nhật nới lỏng
các điều khoản cấm xuất khẩu vũ khí là nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách
quốc phòng và khuyến khích các nhà sản xuất vũ khí của mình phát triển công
nghệ. Một vài chuyên gia quân sự cho rằng, việc Tokyo mua 42 chiếc F-35A
Lightning II của hãng Lockheed Martin cũng là yếu tố tác động đến quyết định sửa
luật của Nhật Bản. Như vậy, nước này có thể tổ chức láp ráp F-35A trên lãnh thổ
của mình cũng như tham gia vào chương trình thiết kế loại máy bay
trên.
Nhờ sửa luật mà Nhật Bản được
hưởng lợi khá nhiều. Thứ nhất, Tokyo có thể bán các phát minh công nghệ, đem lại
nguồn thu đáng kể cho ngân sách quốc gia (theo dự báo đến tháng 3.2012, nợ công
của Nhật Bản sẽ là 13 nghìn tỉ USD). Thứ hai, nếu lắp ráp F-35A trên lãnh thổ
Nhật Bản, sẽ tạo ra nhiều việc làm và tạo thêm khoản thu cho ngân sách quốc gia.
Hơn thế, ngoài Mỹ và Nhật Bản, loại tiêm kích đa năng thế hệ thứ năm này còn
được cung cấp cho Anh, Na Uy, Canada, Úc, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều nước
khác.
Tham dự vào chương trình F-35,
các nhà máy của Nhật Bản có thể tiếp cận rộng rãi với công nghệ Mỹ. Các kinh
nghiệm thu được là rất quý giá, bởi Bộ Quốc phòng Nhật Bản lâu nay muốn thiết kế
chiếc máy bay thế hệ thứ năm - ATD-X cho riêng mình. Nhật còn có thể tự duy tu
bảo dưỡng, sửa chữa F-35 mà không cần sự trợ giúp của Mỹ cũng như thành lập
trung tâm bảo dưỡng F-35 và phục vụ cho các nước khác như Úc, Anh… Ngoài ra,
Tokyo cũng có cơ hội xuất khẩu hệ thống phòng thủ chống tên lửa cho châu Âu. Mỹ
từ nay cũng không cần sự đồng ý của Nhật mới cung cấp SM-3 cho các nước châu
Âu.
Tựu trung, giờ đây một Nhật Bản
hòa bình đang có bước tiến đầu tiên đến quá trình quân sự hóa. Trong một vài năm
gần đây, nước này đã xem xét việc trưng cầu dân ý về thay đổi điều 9 của hiến
pháp năm 1947. Điều 9 này cấm Nhật Bản có quân đội riêng. Vào năm 2006, có chút
ít thay đổi khi lực lượng phòng vệ Nhật Bản trở thành tổ chức quân sự và cho
phép thành lập Bộ Quốc phòng Nhật Bản. Một bước đi hợp lý nữa sẽ diễn ra là thay
đổi hẳn điều 9, cho phép Nhật Bản tham dự vào các sứ mệnh hòa bình quốc
tế.
Ngữ Tử
Yên
Sau 44 năm, Chính phủ Nhật Bản
vừa xem xét lại đạo luật cấm nước này xuất khẩu vũ khí và nới lỏng nhiều quy
định để có thể mua bán vũ khí trên thị trường quốc tế.
Giờ đây các hãng sản xuất vũ khí của Nhật Bản có thể tham gia vào các chương trình thiết kế, sản xuất vũ khí khí tài cũng như bán sản phẩm quân sự ra nước ngoài. Trước hết là tham dự một phần vào việc triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Mỹ ở châu Âu và thiết kế sản xuất máy bay tiêm kích đa năng F-35 Lighning II.
Cần nhắc lại rằng, đạo luật cấm xuất khẩu vũ khí bao gồm ba điều khoản, có hiệu lực tại Nhật Bản từ năm 1967. Ba điều khoản đó cấm các nhà máy quốc phòng của Nhật Bản bán vũ khí, khí tài cho các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa, các quốc gia đang tham dự vào các xung đột quốc tế và các quốc gia bị Liên Hiệp Quốc cấm vận vũ khí.
Đến năm 1976, ba điều khoản được gộp làm một: Chính phủ Nhật Bản nghiêm cấm xuất khẩu bất cứ loại vũ khí khí tài nào. Tuy thế, luật nào cũng có kẽ hở. Một số nhà máy của nước này vẫn có thể bán cho Mỹ động cơ tên lửa và tham gia vào chương trình thiết kế tên lửa đánh chặn của Mỹ.
Vì có luật cấm, nên năm 2010,
chương trình thiết kế tên lửa đánh chặn SM-3 Block IIA mà Mỹ và Nhật Bản hợp tác
đâm vào ngõ cụt. Chương trình còn đứng trước nguy cơ phải hủy bỏ. Theo thỏa
thuận, Nhật sẽ cung cấp động cơ tên lửa cho SM-3 và thiết kế chương trình bảo
vệ, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống phòng thủ Aegis như dự kiến SM-3 sẽ
được biên chế vào hệ thống này.
Không những thế, khi Mỹ định xuất khẩu hệ thống phòng thủ chống tên lửa qua châu Âu thì Nhật phản đối kịch liệt. Tokyo đã yêu cầu Washington phải có thỏa thuận nếu muốn xuất khẩu công nghệ cho một nước thứ ba. Sự hợp tác Mỹ - Nhật trong chương trình này bắt đầu từ năm 2004, còn các khảo sát, nghiên cứu được tiến hành trong những năm 2006 - 2009. Theo kế hoạch, chương trình được triển khai vào năm 2010, kéo dài khoảng 6 năm và chỉ có Mỹ - Nhật mới có toàn quyền sử dụng công nghệ của chương trình này. Vào tháng 10.2009, ông Robert Gates khi đó là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã yêu cầu người đồng nhiệm bên phía Nhật Bản - ông Tosimi Kitazawa, nới lỏng các quy định để có thể xuất khẩu SM-3 sang châu Âu.
Vào mùa xuân 2010, lần đầu tiên
Nhật Bản muốn nới lỏng các điều khoản cấm xuất khẩu vũ khí khi cho thành lập
nhóm soạn thảo các quy định mới trong lĩnh vực này. Tuy thế, đến tháng 12.2010,
mọi ý đồ bị phá sản hoàn toàn khi chính Chính phủ Nhật Bản phủ quyết chuyện này.
Sở dĩ như vậy, vì chính phủ muốn có sự ủng hộ của đảng Dân chủ xã hội, tổ chức
luôn chống lại việc cho phép xuất khẩu vũ khí, khí tài. Việc ủng hộ này tạo điều
kiện để Quốc hội Nhật Bản thông qua ngân sách năm 2011.
Sau một năm đóng băng, vào tháng 12.2011, cuối cùng Nhật Bản cũng nới lỏng điều luật. Ngày 27.12, chính phủ nước này thông báo đã xem xét lại các điều khoản cấm và từ nay trở đi, các hãng của Nhật Bản có thể cùng Mỹ, Úc, Hàn Quốc, các nước thuộc NATO thực hiện các chương trình quân sự và sản xuất vũ khí. Ngoài ra, các nhà máy có thể cung cấp vũ khí, khí tài cho các nước để sử dụng trong các sứ mạng nhân đạo như chiến dịch cứu hộ hay chở hàng hóa đến các khu vực bị thảm họa thiên nhiên. "Điều này cho thấy giờ đây Nhật Bản có thể tích cực hơn trong các chiến dịch vì hòa bình của quốc tế, đấu tranh với chủ nghĩa khủng bố và hải tặc", Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda tuyên bố.
Nguyên nhân để Nhật nới lỏng các điều khoản cấm xuất khẩu vũ khí là nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc phòng và khuyến khích các nhà sản xuất vũ khí của mình phát triển công nghệ. Một vài chuyên gia quân sự cho rằng, việc Tokyo mua 42 chiếc F-35A Lightning II của hãng Lockheed Martin cũng là yếu tố tác động đến quyết định sửa luật của Nhật Bản. Như vậy, nước này có thể tổ chức láp ráp F-35A trên lãnh thổ của mình cũng như tham gia vào chương trình thiết kế loại máy bay trên.
Nhờ sửa luật mà Nhật Bản được hưởng lợi khá nhiều. Thứ nhất, Tokyo có thể bán các phát minh công nghệ, đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách quốc gia (theo dự báo đến tháng 3.2012, nợ công của Nhật Bản sẽ là 13 nghìn tỉ USD). Thứ hai, nếu lắp ráp F-35A trên lãnh thổ Nhật Bản, sẽ tạo ra nhiều việc làm và tạo thêm khoản thu cho ngân sách quốc gia. Hơn thế, ngoài Mỹ và Nhật Bản, loại tiêm kích đa năng thế hệ thứ năm này còn được cung cấp cho Anh, Na Uy, Canada, Úc, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều nước khác.
Tham dự vào chương trình F-35, các nhà máy của Nhật Bản có thể tiếp cận rộng rãi với công nghệ Mỹ. Các kinh nghiệm thu được là rất quý giá, bởi Bộ Quốc phòng Nhật Bản lâu nay muốn thiết kế chiếc máy bay thế hệ thứ năm - ATD-X cho riêng mình. Nhật còn có thể tự duy tu bảo dưỡng, sửa chữa F-35 mà không cần sự trợ giúp của Mỹ cũng như thành lập trung tâm bảo dưỡng F-35 và phục vụ cho các nước khác như Úc, Anh… Ngoài ra, Tokyo cũng có cơ hội xuất khẩu hệ thống phòng thủ chống tên lửa cho châu Âu. Mỹ từ nay cũng không cần sự đồng ý của Nhật mới cung cấp SM-3 cho các nước châu Âu.
Tựu trung, giờ đây một Nhật Bản hòa bình đang có bước tiến đầu tiên đến quá trình quân sự hóa. Trong một vài năm gần đây, nước này đã xem xét việc trưng cầu dân ý về thay đổi điều 9 của hiến pháp năm 1947. Điều 9 này cấm Nhật Bản có quân đội riêng. Vào năm 2006, có chút ít thay đổi khi lực lượng phòng vệ Nhật Bản trở thành tổ chức quân sự và cho phép thành lập Bộ Quốc phòng Nhật Bản. Một bước đi hợp lý nữa sẽ diễn ra là thay đổi hẳn điều 9, cho phép Nhật Bản tham dự vào các sứ mệnh hòa bình quốc tế.
Giờ đây các hãng sản xuất vũ khí của Nhật Bản có thể tham gia vào các chương trình thiết kế, sản xuất vũ khí khí tài cũng như bán sản phẩm quân sự ra nước ngoài. Trước hết là tham dự một phần vào việc triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Mỹ ở châu Âu và thiết kế sản xuất máy bay tiêm kích đa năng F-35 Lighning II.
Cần nhắc lại rằng, đạo luật cấm xuất khẩu vũ khí bao gồm ba điều khoản, có hiệu lực tại Nhật Bản từ năm 1967. Ba điều khoản đó cấm các nhà máy quốc phòng của Nhật Bản bán vũ khí, khí tài cho các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa, các quốc gia đang tham dự vào các xung đột quốc tế và các quốc gia bị Liên Hiệp Quốc cấm vận vũ khí.
Đến năm 1976, ba điều khoản được gộp làm một: Chính phủ Nhật Bản nghiêm cấm xuất khẩu bất cứ loại vũ khí khí tài nào. Tuy thế, luật nào cũng có kẽ hở. Một số nhà máy của nước này vẫn có thể bán cho Mỹ động cơ tên lửa và tham gia vào chương trình thiết kế tên lửa đánh chặn của Mỹ.
|
Mô hình chiếc ATD-X Shinshin của Nhật - Ảnh: Wikipedia |
Không những thế, khi Mỹ định xuất khẩu hệ thống phòng thủ chống tên lửa qua châu Âu thì Nhật phản đối kịch liệt. Tokyo đã yêu cầu Washington phải có thỏa thuận nếu muốn xuất khẩu công nghệ cho một nước thứ ba. Sự hợp tác Mỹ - Nhật trong chương trình này bắt đầu từ năm 2004, còn các khảo sát, nghiên cứu được tiến hành trong những năm 2006 - 2009. Theo kế hoạch, chương trình được triển khai vào năm 2010, kéo dài khoảng 6 năm và chỉ có Mỹ - Nhật mới có toàn quyền sử dụng công nghệ của chương trình này. Vào tháng 10.2009, ông Robert Gates khi đó là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã yêu cầu người đồng nhiệm bên phía Nhật Bản - ông Tosimi Kitazawa, nới lỏng các quy định để có thể xuất khẩu SM-3 sang châu Âu.
|
Xe tăng Type 90 do Nhật sản xuất - Ảnh: Wikipedia |
Sau một năm đóng băng, vào tháng 12.2011, cuối cùng Nhật Bản cũng nới lỏng điều luật. Ngày 27.12, chính phủ nước này thông báo đã xem xét lại các điều khoản cấm và từ nay trở đi, các hãng của Nhật Bản có thể cùng Mỹ, Úc, Hàn Quốc, các nước thuộc NATO thực hiện các chương trình quân sự và sản xuất vũ khí. Ngoài ra, các nhà máy có thể cung cấp vũ khí, khí tài cho các nước để sử dụng trong các sứ mạng nhân đạo như chiến dịch cứu hộ hay chở hàng hóa đến các khu vực bị thảm họa thiên nhiên. "Điều này cho thấy giờ đây Nhật Bản có thể tích cực hơn trong các chiến dịch vì hòa bình của quốc tế, đấu tranh với chủ nghĩa khủng bố và hải tặc", Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda tuyên bố.
Nguyên nhân để Nhật nới lỏng các điều khoản cấm xuất khẩu vũ khí là nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc phòng và khuyến khích các nhà sản xuất vũ khí của mình phát triển công nghệ. Một vài chuyên gia quân sự cho rằng, việc Tokyo mua 42 chiếc F-35A Lightning II của hãng Lockheed Martin cũng là yếu tố tác động đến quyết định sửa luật của Nhật Bản. Như vậy, nước này có thể tổ chức láp ráp F-35A trên lãnh thổ của mình cũng như tham gia vào chương trình thiết kế loại máy bay trên.
Nhờ sửa luật mà Nhật Bản được hưởng lợi khá nhiều. Thứ nhất, Tokyo có thể bán các phát minh công nghệ, đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách quốc gia (theo dự báo đến tháng 3.2012, nợ công của Nhật Bản sẽ là 13 nghìn tỉ USD). Thứ hai, nếu lắp ráp F-35A trên lãnh thổ Nhật Bản, sẽ tạo ra nhiều việc làm và tạo thêm khoản thu cho ngân sách quốc gia. Hơn thế, ngoài Mỹ và Nhật Bản, loại tiêm kích đa năng thế hệ thứ năm này còn được cung cấp cho Anh, Na Uy, Canada, Úc, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều nước khác.
Tham dự vào chương trình F-35, các nhà máy của Nhật Bản có thể tiếp cận rộng rãi với công nghệ Mỹ. Các kinh nghiệm thu được là rất quý giá, bởi Bộ Quốc phòng Nhật Bản lâu nay muốn thiết kế chiếc máy bay thế hệ thứ năm - ATD-X cho riêng mình. Nhật còn có thể tự duy tu bảo dưỡng, sửa chữa F-35 mà không cần sự trợ giúp của Mỹ cũng như thành lập trung tâm bảo dưỡng F-35 và phục vụ cho các nước khác như Úc, Anh… Ngoài ra, Tokyo cũng có cơ hội xuất khẩu hệ thống phòng thủ chống tên lửa cho châu Âu. Mỹ từ nay cũng không cần sự đồng ý của Nhật mới cung cấp SM-3 cho các nước châu Âu.
Tựu trung, giờ đây một Nhật Bản hòa bình đang có bước tiến đầu tiên đến quá trình quân sự hóa. Trong một vài năm gần đây, nước này đã xem xét việc trưng cầu dân ý về thay đổi điều 9 của hiến pháp năm 1947. Điều 9 này cấm Nhật Bản có quân đội riêng. Vào năm 2006, có chút ít thay đổi khi lực lượng phòng vệ Nhật Bản trở thành tổ chức quân sự và cho phép thành lập Bộ Quốc phòng Nhật Bản. Một bước đi hợp lý nữa sẽ diễn ra là thay đổi hẳn điều 9, cho phép Nhật Bản tham dự vào các sứ mệnh hòa bình quốc tế.
Ngữ Tử
Yên
Nga thử thành công tên lửa đánh chặn 53T6
Vào trung tuần tháng 12.2011,
tại bãi phóng Sary-Shagan của Kazakhstan, Nga đã bắn thử thành công tên lửa đánh
chặn thuộc hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Moscow.
Theo thông báo của Bộ Quốc
phòng Nga, tên lửa đánh chặn có số hiệu 53T6 và căn cứ vào số hiệu thì nó được
biên chế vào hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Moscow từ năm 1995 (hệ thống
A-135). Tuy nhiên, đại diện Bộ Quốc phòng Nga nói, đây là loại tên lửa hoàn toàn
mới. Có lẽ Nga có một vài thay đổi trong thiết kế 53T6 như thay động cơ mới và
nâng cấp chương trình bảo vệ…
Cuộc thử nghiệm tên lửa đánh
chặn 53T6 diễn ra vào lúc 12 giờ 1 phút (giờ Moscow) ngày 20.12.2011, nhằm kiểm
tra tính năng kỹ thuật của hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Phó tư lệnh lực
lượng phòng thủ phòng không - vũ trụ, tướng Sergei Lobov cho biết, tên lửa 53T6
đã chinh phục mục tiêu theo đúng thời gian quy định.
Tất nhiên, không có thông tin
chi tiết về loại tên lửa mới 53T6 mà hầu như ai cũng muốn biết. Hay chí ít cũng
phải có vài số liệu các tính năng kỹ thuật chính của loại tên lửa này. Còn loại
tên lửa 53T6 (cũ) có từ thập niên 1990 dài 10m, đường kính 1m và trọng lượng gần
10 tấn. Nó có thể tiêu diệt tên lửa hành trình ở khoảng cách 80 km với trần bay
là 30 km.
Việc thử nghiệm tên lửa đánh
chặn 53T6 tại bãi Sary-Shagan của hệ thống A-135 thường diễn ra và là điều bình
thường. Trong vòng 4 năm gần đây đã có 3 cuộc thử nghiệm mà lần gần nhất là vào
tháng 10.2010, được cho là để kiểm tra các yếu tố, thành phần cấu thành để nâng
cấp sâu rộng hệ thống A-135.
Hệ thống A-135 được Liên Xô
thiết kế vào năm 1971. Hệ thống này nhằm thay thế cho hệ thống A-35 cũ kỹ, lạc
hậu. Khi đó A-135 có 2 loại tên lửa là 51T6 nhằm đối phó với các mục tiêu có
trần bay trên 100 km và tầm bắn tới 600 km và 53T6 có công dụng như đã
nêu.
Nghị quyết về khởi công xây
dựng hệ thống A-135 được Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ký vào năm 1978 và bên cạnh
đó là chỉ thị bắt đầu hiện đại hóa hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Cần nhắc
lại rằng, xây dựng hệ thống A-135 nằm trong khuôn khổ "Hiệp định về hệ thống
phòng thủ chống tên lửa" mà Liên Xô và Mỹ ký vào năm 1972. Theo đó mỗi nước có
quyền xây dựng không quá 2 hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Mỗi hệ thống chỉ
được trang bị không quá 100 tên lửa đánh chặn. Đến năm 1974, điều kiện của hiệp
định được siết chặt hơn: Cho phép mỗi bên chỉ có một hệ thống phòng thủ chống
tên lửa. Theo hiệp định Mỹ triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa của mình
tại căn cứ quân sự Grand Forks, North Dakota. Thế nhưng 1 năm sau đó Mỹ lại tháo
dỡ hệ thống này. Còn Liên Xô quyết định bố trí hệ thống phòng thủ chống tên lửa
tại Moscow. "Hiệp định về hệ thống phòng thủ chống tên lửa" bị vô hiệu hóa từ
tháng 6.2002, khi Mỹ bắt đầu triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa tại
châu Âu.

Tên lửa đánh chặn có
số hiệu 53T6 trên mặt đất và khi phóng thử ngày 20.12 vừa qua - Ảnh:
vpk-news.ru
Phần lớn hệ thống A-135 được
hoàn tất vào giữa những năm 1980. Trong quá trình hình thành hệ thống này, Liên
Xô đã tiến hành thử nghiệm thành công hàng loạt tên lửa đánh chặn, hạ gục các
tên lửa hành trình. Cho đến năm 1995, lúc nào cũng có 100 tên lửa trực chiến tại
hệ thống A-135.
Ngoài tên lửa đánh chặn 51T6,
(được trang bị đầu đạn hạt nhân để tăng cao khả năng hạ gục tên lửa hành trình
của đối phương), hệ thống A-135 còn có trạm radar Don-2HP. Radar có hình kim tự
tháp, chiều dài và rộng đều là 100m, còn chiều cao là 35m. Trạm radar này có khả
năng kiểm soát khoảng không gian ở tầm xa đến 2 nghìn km (theo nguồn thông tin
khác là 3,7 nghìn km) và trần quan sát là 40 nghìn km. Đảm bảo cho radar hoạt
động tốt là siêu máy tính Elbruc-2.
Tên lửa đánh chặn 51T6 chính
thức rút ra khỏi hệ thống A-135 vào những năm 2002 - 2003 do đã quá thời hạn
phục vụ. Tuy thế, theo một vài nguồn tin chưa được khẳng định, hiện số tên lửa
này vẫn được sử dụng để trực chiến (!?). Không những thế, hiện Nga còn muốn cải
tiến loại tên lửa này và biên chế vào hệ thống A-235 (hệ thống phòng thủ tên lửa
đánh chặn gồm 3 lớp: tầm ngắn, tầm trung và tầm xa). Dự kiến đến năm 2015 hệ
thống A-235 sẽ hoàn tất.

Trạm radar Don-2HP -
Ảnh: vpk-news.ru
Thiết kế và lắp đặt hệ thống
A-235 do tập đoàn Almaz-antey của Nga đảm nhiệm. Không chỉ lắp đặt 3 lớp tên lửa
đánh chặn, Almaz-antey còn đưa nhiều trang thiết bị kỹ thuật tối tân khác nhằm
phục vụ nhiệm vụ đánh chặn của hệ thống này. Như vậy, A-235 trong tương lai gần
sẽ thay thế hệ thống A-135 và đương nhiên sẽ có nhiều điểm ưu việt so với trước
đây. Chẳng hạn, siêu máy tính Elbruc-2 sẽ bị loại và thay vào đó là loại siêu
máy tính đời mới có công suất mạnh hơn là Elbruc-3M. Với 3 lớp tên lửa đánh
chặn, A-235 sẽ có loại tên lửa 51T6, có khả năng hạ gục mục tiêu cách 1,5 nghìn
km và có trần bay là 800 km. Ở tầm trung là tên lửa 58R6, hạ gục mục tiêu dưới
1 nghìn km và có trần bay 120 km. Ở tầm ngắn là tên lửa 53T6 (vừa thử nghiệm
ngày 20.12.2011), có khả năng hạ gục mục tiêu cách 350 km và có trần bay là 40 -
50 km. Hệ thống này dự kiến sẽ có một số tên lửa đánh chặn mang đầu đạn hạt
nhân.
Từ trước đến nay việc thử
nghiệm các tên lửa đánh chặn của Nga thường diễn ra khá lặng lẽ. Tuy thế, lần
thử mới đây báo chí lại đưa tin khá ầm ĩ và các nhà phân tích quân sự cho rằng,
chẳng qua Moscow muốn như thế để gây sự chú ý cũng như là "đòn đáp trả" việc Mỹ
tiếp tục triển khai hệ thống tên lửa phòng thủ của mình tại châu Âu. Động thái
này không khác mấy khi vào tháng 11.2011, Nga rầm rộ tuyên truyền việc triển
khai dàn radar loại mới tại Kaliningrad.
Trước đó, từ năm 2008, Nga và
Cộng đồng các quốc gia độc lập - SNG, đã thành lập hệ thống tên lửa phòng thủ
thống nhất, liên kết và thường xuyên trao đổi thông tin giữa các hệ thống phòng
thủ khác nhau trong khu vực. Hơn thế, quan điểm của Nga là hệ thống tên lửa
phòng thủ thống nhất sẽ có nhiều tầng, nhiều lớp, bao gồm nhiều hệ thống tên lửa
hiện đại từ tầm ngắn như Tunguska, Tor-M2, Pansir-S1, hay tầm trung và tầm xa
như S-300, S-400 và từ năm 2015 là S-500.
Vào tháng 1.2011, Tổng tham mưu
trưởng Nga - tướng Nicolai Marakov tuyên bố, việc thành lập hệ thống tên lửa
phòng thủ thống nhất, cho phép Nga mở rộng tầm kiểm soát và có thể hạ gục bất cứ
loại tên lửa hành trình nào từ mặt đất, trên không hay từ trên biển.
Xem ra khó có thể hy vọng Nga
hay Mỹ sẽ có sự nhượng bộ nào trong việc thiết lập hệ thống phòng thủ chống tên
lửa.
Ngữ Tử
Yên
Theo thông báo của Bộ Quốc phòng Nga, tên lửa đánh chặn có số hiệu 53T6 và căn cứ vào số hiệu thì nó được biên chế vào hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Moscow từ năm 1995 (hệ thống A-135). Tuy nhiên, đại diện Bộ Quốc phòng Nga nói, đây là loại tên lửa hoàn toàn mới. Có lẽ Nga có một vài thay đổi trong thiết kế 53T6 như thay động cơ mới và nâng cấp chương trình bảo vệ…
Cuộc thử nghiệm tên lửa đánh chặn 53T6 diễn ra vào lúc 12 giờ 1 phút (giờ Moscow) ngày 20.12.2011, nhằm kiểm tra tính năng kỹ thuật của hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Phó tư lệnh lực lượng phòng thủ phòng không - vũ trụ, tướng Sergei Lobov cho biết, tên lửa 53T6 đã chinh phục mục tiêu theo đúng thời gian quy định.
Tất nhiên, không có thông tin chi tiết về loại tên lửa mới 53T6 mà hầu như ai cũng muốn biết. Hay chí ít cũng phải có vài số liệu các tính năng kỹ thuật chính của loại tên lửa này. Còn loại tên lửa 53T6 (cũ) có từ thập niên 1990 dài 10m, đường kính 1m và trọng lượng gần 10 tấn. Nó có thể tiêu diệt tên lửa hành trình ở khoảng cách 80 km với trần bay là 30 km.
|
|
Hệ thống A-135 được Liên Xô thiết kế vào năm 1971. Hệ thống này nhằm thay thế cho hệ thống A-35 cũ kỹ, lạc hậu. Khi đó A-135 có 2 loại tên lửa là 51T6 nhằm đối phó với các mục tiêu có trần bay trên 100 km và tầm bắn tới 600 km và 53T6 có công dụng như đã nêu.
Nghị quyết về khởi công xây dựng hệ thống A-135 được Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ký vào năm 1978 và bên cạnh đó là chỉ thị bắt đầu hiện đại hóa hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Cần nhắc lại rằng, xây dựng hệ thống A-135 nằm trong khuôn khổ "Hiệp định về hệ thống phòng thủ chống tên lửa" mà Liên Xô và Mỹ ký vào năm 1972. Theo đó mỗi nước có quyền xây dựng không quá 2 hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Mỗi hệ thống chỉ được trang bị không quá 100 tên lửa đánh chặn. Đến năm 1974, điều kiện của hiệp định được siết chặt hơn: Cho phép mỗi bên chỉ có một hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Theo hiệp định Mỹ triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa của mình tại căn cứ quân sự Grand Forks, North Dakota. Thế nhưng 1 năm sau đó Mỹ lại tháo dỡ hệ thống này. Còn Liên Xô quyết định bố trí hệ thống phòng thủ chống tên lửa tại Moscow. "Hiệp định về hệ thống phòng thủ chống tên lửa" bị vô hiệu hóa từ tháng 6.2002, khi Mỹ bắt đầu triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa tại châu Âu.
|
Tên lửa đánh chặn có số hiệu 53T6 trên mặt đất và khi phóng thử ngày 20.12 vừa qua - Ảnh: vpk-news.ru |
Ngoài tên lửa đánh chặn 51T6, (được trang bị đầu đạn hạt nhân để tăng cao khả năng hạ gục tên lửa hành trình của đối phương), hệ thống A-135 còn có trạm radar Don-2HP. Radar có hình kim tự tháp, chiều dài và rộng đều là 100m, còn chiều cao là 35m. Trạm radar này có khả năng kiểm soát khoảng không gian ở tầm xa đến 2 nghìn km (theo nguồn thông tin khác là 3,7 nghìn km) và trần quan sát là 40 nghìn km. Đảm bảo cho radar hoạt động tốt là siêu máy tính Elbruc-2.
Tên lửa đánh chặn 51T6 chính thức rút ra khỏi hệ thống A-135 vào những năm 2002 - 2003 do đã quá thời hạn phục vụ. Tuy thế, theo một vài nguồn tin chưa được khẳng định, hiện số tên lửa này vẫn được sử dụng để trực chiến (!?). Không những thế, hiện Nga còn muốn cải tiến loại tên lửa này và biên chế vào hệ thống A-235 (hệ thống phòng thủ tên lửa đánh chặn gồm 3 lớp: tầm ngắn, tầm trung và tầm xa). Dự kiến đến năm 2015 hệ thống A-235 sẽ hoàn tất.
|
Trạm radar Don-2HP - Ảnh: vpk-news.ru |
Từ trước đến nay việc thử nghiệm các tên lửa đánh chặn của Nga thường diễn ra khá lặng lẽ. Tuy thế, lần thử mới đây báo chí lại đưa tin khá ầm ĩ và các nhà phân tích quân sự cho rằng, chẳng qua Moscow muốn như thế để gây sự chú ý cũng như là "đòn đáp trả" việc Mỹ tiếp tục triển khai hệ thống tên lửa phòng thủ của mình tại châu Âu. Động thái này không khác mấy khi vào tháng 11.2011, Nga rầm rộ tuyên truyền việc triển khai dàn radar loại mới tại Kaliningrad.
Trước đó, từ năm 2008, Nga và Cộng đồng các quốc gia độc lập - SNG, đã thành lập hệ thống tên lửa phòng thủ thống nhất, liên kết và thường xuyên trao đổi thông tin giữa các hệ thống phòng thủ khác nhau trong khu vực. Hơn thế, quan điểm của Nga là hệ thống tên lửa phòng thủ thống nhất sẽ có nhiều tầng, nhiều lớp, bao gồm nhiều hệ thống tên lửa hiện đại từ tầm ngắn như Tunguska, Tor-M2, Pansir-S1, hay tầm trung và tầm xa như S-300, S-400 và từ năm 2015 là S-500.
Vào tháng 1.2011, Tổng tham mưu trưởng Nga - tướng Nicolai Marakov tuyên bố, việc thành lập hệ thống tên lửa phòng thủ thống nhất, cho phép Nga mở rộng tầm kiểm soát và có thể hạ gục bất cứ loại tên lửa hành trình nào từ mặt đất, trên không hay từ trên biển.
Xem ra khó có thể hy vọng Nga hay Mỹ sẽ có sự nhượng bộ nào trong việc thiết lập hệ thống phòng thủ chống tên lửa.
Ngữ Tử Yên
S-500 và hệ thống phòng thủ vũ trụ của Nga
|
|
|
|
Tập đoàn sản xuất tên
lửa Almaz-antey (Nga) vừa tuyên bố trong năm 2012 này sẽ xây dựng nhà máy mới
sản xuất tên lửa tối tân nhất: S-500 “Prometei” để phục vụ hệ thống phòng thủ vũ
trụ.
Nhà máy mới sẽ được xây
dựng tại thành phố Hạ Novgorod và là nhà máy thứ 46 của Almaz-antey tại nước
Nga. Sắp tới sẽ có thêm một nhà máy mới khác nữa cũng của tập đoàn này tại tỉnh
Kirov. Tổng cộng sẽ có 3 nhà máy chuyên sản xuất tên lửa phòng thủ và tên lửa
tấn công cho lực lượng phòng thủ hàng không - vũ trụ Nga.
Theo dự báo của đại diện
Bộ Quốc phòng Nga và Almaz-antey, hệ thống tên lửa S-500 “Prometei” có thể bắt
đầu được sản xuất hàng loạt vào năm 2014. Sau đó vào khoảng 2015, những hệ thống
S-500 đầu tiên sẽ được biên chế vào lực lượng vũ trang nước này. Nếu nhà máy mới
ở Hạ Novgorod chưa thể vận hành ngay, khi đó Almaz-antey sẽ sử dụng các nhà máy
khác để sản xuất S-500.
|
Một cuộc bắn thử tên lửa S-400 - Ảnh: wartechnic.ru |
Cho đến nay, thông tin
chi tiết về hệ thống S-500 còn là một ẩn số. Tuy thế, giới quân sự đánh giá
rằng, hệ thống này sẽ gọn hơn, cơ động hơn và hiệu quả so với S-400 “Triumf”,
loại mà hiện quân đội Nga đang có 3 sư đoàn.
Theo một số nguồn thông
tin, nhiều khả năng hệ thống S-500 “Prometei” sẽ có radar lưới hiện đại (AFAR),
có bán kính hoạt động 600 km (xa hơn 200 km so với S-400 “Triumf”). S-500 có khả
năng phát hiện và cùng lúc chinh phục 10 mục tiêu đạn đạo, đang bay với tốc độ 7
km/giây. Ngoài ra, hệ thống này còn có thể đánh chặn các tên lửa hành trình và
thực hiện nhiệm vụ phòng thủ không đối không.
S-500 “Prometei” sẽ liên
kết hệ thống phòng thủ thống nhất của Nga mang tên A-135 “Amur”, nhằm tạo thành
lá chắn bảo vệ thủ đô Moscow và khu vực trung tâm của nước Nga. Hiện thống phòng
thủ thống nhất này sử dụng trạm radar “Don-2N”, đặt tại làng Sophrino, ngoại ô
Moscow cùng bệ phóng tên lửa 53T6, có khả năng tiêu diệt mục tiêu trên không ở
độ cao 30 km và cách xa 80 km. Trước đây, trong hệ thống phòng thủ của Moscow
còn có tên lửa 51T6 “Azov” có tầm hoạt động là 350 km. Tuy nhiên những năm 2002
- 2003 do quá thời hạn sử dụng nên loại tên lửa này bị loại khỏi quân đội
Nga.
Cùng với việc chuẩn bị
có hệ thống S-500, Bộ Quốc phòng Nga sẽ cải tiến, nâng cấp A-135 “Amur”. Vào
cuối tháng 12.2011, tại trường bắn thử Sary-Shagan ở Kazakhstan, các chuyên gia
Nga đã thử nghiệm loại 53T6 cải tiến dành cho A-135. Hiệu quả cuộc thử nghiệm
này như thế nào không được Nga tiết lộ.
Không loại trừ việc sản
xuất S-500 “Prometei” sẽ bị kéo dài và trong 3 - 4 năm nữa hệ thống này chưa thể
hiện diện tại Moscow, lúc đó A-135 “Amur” vẫn là lá chắn hạt nhân duy nhất của
Nga. Đáng chú ý là A-135 chỉ có thể bảo vệ một phần lãnh thổ của
Nga.
|
Radar “Voronezh” đang được Nga triển khai rộng khắp - Ảnh: nador.ru |
Trước mắt, các hệ thống
tên lửa như S-300, S300V4, S-400 vẫn là phương tiện phòng thủ đáng tin cậy và
tốt của Nga. Ngoài S-500, dự kiến tới năm 2020, Nga sẽ có thêm 30 hệ thống tên
lửa tầm trung “Vityaz”. Tựu trung, từ nay đến năm 2020, lực lượng phòng thủ hàng
không - vũ trụ Nga sẽ được chi 20%/tổng ngân sách quốc phòng của nước này. Trong
vòng 7 - 8 tới, Chính phủ Nga dự chi ngân sách quốc phòng là 23.000 tỉ rup
(tương đương 760 tỉ USD).
Trong khuôn khổ chương
trình xây dựng lực lượng phòng thủ hàng không - vũ trụ, đến năm 2016 hệ thống
thông tin liên lạc của Nga sẽ hoàn toàn chuyển qua chuẩn kỹ thuật số. Như vậy,
việc phát hiện, dò tìm mục tiêu các loại kể cả tên lửa hành trình của đối phương
sẽ được nhanh hơn, chính xác hơn, hiệu quả hơn. Các loại radar lạc hậu như
“Dnepr”, “Volga” và “Daryal” sẽ được thay thế mới hoàn toàn. Hệ thống cảnh báo
tấn công tên lửa (SPRN) bao gồm các radar “Voronezh” sẽ được bố trí rộng khắp
trên lãnh thổ Nga, trước mắt là tại Lekhtusi (khu vực Leningrad), Armavir (vùng
Krasnodar) và Kaliningrad (khu vực phía tây xa nhất của Liên bang Nga). Tiếp đến
radar “Voronezh” sẽ lắp đặt tại Pechore (Cộng hòa Komi, thuộc Nga), Barnaul
(vùng Altai), Eniseisk (vùng Krasnoyasky) và Omsk, Olennegorsk (vùng
Murmansk).
Nga còn đặt radar tại
nước ngoài như ở Sirya, phía nam Damascus nhằm kiểm soát khoảng không thuộc
Israel, Jordan và Ả Rập Xê Út. Trạm radar của Nga ở Sirya còn có thể liên kết
với trạm radar của Sirya đặt ở Li-băng và như vậy nó có thể kiểm soát không phận
của vùng Địa Trung hải, kể cả không phận của Hy Lạp và Cuprus.
Moscow còn thuê địa điểm
ở Azerbaijan (300 triệu USD/năm) để đặt trạm radar “Daryal” nhằm phát hiện tên
lửa hành trình. Nga còn dự tính triển khai hệ thống tên lửa phòng thủ tại Cộng
hòa Armenia. Đó là chưa kể trong khuôn khổ của Hệ thống phòng thủ chống tên lửa
của Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG), đến năm 2015, Nga sẽ trang bị hệ thống
S-400 cho Belarus và Kazakhstan. Dù trên danh nghĩa là bảo vệ hai quốc gia láng
giềng, nhưng thực tế là bảo vệ Moscow từ xa.
Tựu trung, đến năm 2020,
dưới sự chỉ huy của lực lượng phòng thủ hàng không - vũ trụ Nga có thể sẽ có hệ
thống phòng thủ - tấn công tên lửa chiến lược 3 lớp lớn nhất thế giới. Hiện chỉ
có Mỹ là nước có hệ thống phòng thủ tên lửa có thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của
mình. Hàng loạt các thành phần thuộc hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ được đặt
tại Anh, Pháp, Ấn Độ và Trung Quốc. Mỹ đang dự tính xây dựng thêm một lớp phòng
thủ tên lửa thống nhất tại châu Âu, giáp với biên giới nước Nga và nó mới chỉ
đang ở giai đoạn khởi đầu dù Nga đang phản đối rất mạnh kế hoạch này. Có thể
thấy cuộc đua tranh giữa Mỹ và Nga trong triển khai hệ thống phòng thủ - tấn
công tên lửa chiến lược khó có điểm dừng.
|
3 lớp hệ thống tên lửa phòng
thủ và tiến công của Nga
* Lớp phòng thủ tầm ngắn (30 - 40 km):
Bao gồm các tên lửa như các hệ thống:“Buk”, “Panxir-S1” và “Morphei” để bảo vệ
các công trình nhỏ.* Lớp phòng thủ tầm trung (40 - 200 km): Bao gồm các hệ thống tên lửa như: S-300, S-300V4, “Vityaz” để bảo vệ các cơ sở công nghiệp lớn, các trung tâm hành chính, các căn cứ quân sự. * Lớp phòng thủ tầm xa (từ 200 km trở lên): Bao gồm các hệ thống tên lửa hiện đại nhất như S-400 và S-500, có khả năng đánh chặn các mục tiêu do thám, máy bay chiến lược của đối phương, cũng như tiến công và đánh chặn tên lửa hành trình… Trong tương lai sẽ có thêm hệ thống S-1000. |
Ông Vương
Hoàng
Vũ khí Nga ở Indonesia
Theo thông tin từ nhiều báo đài
Nga, Indonesia vừa thỏa thuận sơ bộ sẽ mua 6 chiếc máy bay tiêm kích Su-MK2 và
một số loại vũ khí khác của Nga. Hơn thế, Nga cho Indonesia vay tiền để mua các
loại vũ khí này.
Báo điện
tử Lenta của Nga đưa tin, trong vài tháng
tới, Indonesia sẽ ký thỏa thuận mua của Nga 6 chiếc Su-MK2, tăng T-90, máy bay
trực thăng Mi-17, Mi-35, xe bọc thép BMP-3... Quan trọng hơn, hầu hết các loại
vũ khí trên là do Nga cho Indonesia vay tiền để mua. Bộ Quốc phòng Indonesia sẽ
xác định các loại vũ khí, trang thiết bị đi kèm với loại Su-MK2 và sau đó ký hợp
đồng. Theo lời ông Viktor Komardin - Phó tổng giám đốc cơ quan xuất khẩu vũ khí
Nga Rosoboronexport, thỏa thuận "cứng" để mua Su-MK2 có thể sẽ được ký ngay vào
cuối năm 2011 này.
Hiện chưa rõ giá trị của hợp
đồng, nhưng theo đánh giá của phía Indonesia là sẽ không dưới 500 triệu USD. Ông
Viktor Komardin cho biết, Indonesia rất quan tâm đến việc vay tiền Nga để mua vũ
khí. "Chúng tôi muốn đáp ứng yêu cầu này, dù đây là bạn hàng có ngân sách khiêm
tốn" - Viktor Komardin nói.

Trực thăng Mi-35 -
Ảnh: wallpapers.ssdn.ru
Trước đó vào năm 2007, Nga cho
Indonesia vay 1 tỉ USD để mua vũ khí. Khi đó đất nước ở Đông Nam Á này mua của
xứ sở bạch dương 18 chiếc máy bay trực thăng đa năng Mi-17V5, 5 chiếc trực thăng
tấn công Mi-35P và 20 chiếc xe bọc thép BMP-3P. Bộ Quốc phòng Indonesia còn có
kế hoạch mua 2 tàu ngầm lớp dự án 877 "Paltus". Tuy nhiên, vào tháng 7.2009,
phía Indonesia thông báo việc mua tàu ngầm sẽ được thực hiện sau. Vào năm 2010,
Indonesia vay thêm 300 triệu USD của Nga, còn vào tháng 3 năm này, Ngân hàng
Ngoại thương Nga thông báo có thể cho Indonesia vay thêm tiền để ký hợp đồng mua
bán vũ khí với Rosoboronexport.
Nếu như thỏa thuận "cứng" giữa
Indonesia và Nga sẽ ký kết trong tháng 12.2011, nó cho phép Nga tăng thêm doanh
số xuất khẩu. Ở thời điểm hiện tại, theo số liệu của Rosoboronexport, số tiền
đặt hàng mua vũ khí của Nga từ nước ngoài là 36 tỉ USD. Dự kiến năm 2011, chỉ
tính riêng Rosoboronexport đã đạt 10 tỉ USD xuất khẩu vũ khí, tăng hơn 1 tỉ USD
so với năm 2009. Còn tính chung thì năm 2009, Nga đạt 10 tỉ USD xuất khẩu vũ
khí.
Dù chưa có gì chắc chắn, nhưng
Nga khá tin tưởng vào việc Indonesia sẽ mua máy bay Su-MK2. Ngoài loại máy bay
hiện đại này, họ còn hy vọng Indonesia sẽ mua thêm cả xe tăng T-90 và hệ thống
phóng hỏa tiễn "Smerch". Cả hai bên đang thảo luận mọi khía cạnh khả thi của hợp
đồng. Indonesia sẽ mua bao nhiêu chiếc tăng hiện chưa rõ, nhưng theo lời ông
Viktor Komardin đây sẽ là hợp đồng "số lượng lớn". Không những thế, Indonesia
còn quan tâm đến việc mua trực thăng Mi-17, Mi-35, xe bọc thép BMP-3 cũng như
linh kiện, phụ tùng của máy bay thương hiệu "Su". Hiện có 10 chiếc Su được biên
chế trong không lực Indonesia.

Indonesia rất quan
tâm đến loại tăng T-90 của Nga
Indonesia đang tích cực thực
hiện chương trình phục hồi lực lượng quân đội của mình. Trong vòng 5 năm tới,
nước này có kế hoạch chi 200 nghìn tỉ rupiah (tương đương 22,1 tỉ USD) cho quốc
phòng. Trong đó, có 150 nghìn tỉ rupiah được chi cho không lực. Số tiền này sẽ
dùng để mua các loại máy bay chiến đấu và máy bay vận tải quân sự, nâng cấp các
loại máy bay mà Indonesia đang sở hữu.
Hiện quân đội Indonesia có 2 chiếc
Su-30M, 3 chiếc Su-30MK2, 2 chiếc Su-27SK và 3 chiếc Su-27SKM. Trước đây Bộ Quốc
phòng Indonesia thông báo, các dòng máy bay ký hiệu MK và SK sẽ được nâng cấp
lên thành dòng ML2 và SKM. Thông tin Indonesia đẩy nhanh thời hạn mua thêm 6
chiếc Su có từ tháng 9.2010. Khi đó, đất nước vạn đảo thông báo sẽ mua thêm 180
chiếc máy bay tiêm kích Su nữa. Về phía mình, Rosoboronexport sẽ mở các trung
tâm sửa chữa, bảo dưỡng vũ khí, khí tài Liên Xô (cũ) và Nga tại
Indonesia.
Để nâng cao sức mạnh quân sự,
Indonesia sẽ huy động và tận dụng mọi khả năng có thể có. Nhân tiện nói thêm,
trước đây Mỹ từng đề nghị cung cấp (không lấy tiền) 24 chiếc máy bay tiêm kích
F-16 Fighting Falcon, còn Indonesia chỉ phải trả tiền sửa chữa hoặc nâng cấp
chúng vào khoảng 750 triệu USD. Đây là số tiền không lớn, đủ để mua 2 chiếc máy
bay mới với đầy đủ các trang thiết bị, vũ khí đi kèm. Với xe tăng, ngoài loại
T-90S, Indonesia còn có kế hoạch mua 60 chiếc Leopard 2A6 do Đức sản xuất. Số
tăng trên thuộc quân đội Hà Lan, nước mà theo chương trình cắt giảm ngân sách
quân sự của Liên minh châu Âu sẽ không sử dụng số tăng này vào năm 2014. Hiện Bộ
Ngoại giao và Bộ Kinh tế Hà Lan đang kiểm tra liệu hợp đồng mua bán có vi phạm
các công ước quốc tế nào hay không. Một vài chuyên gia quân sự tỏ ý không nên
bán tăng Leopard 2A6 cho Indonesia.
Nhưng không loại trừ việc Hà
Lan sẽ quyết định bán số tăng này cho Indonesia. Trong thời gian tới, Hà Lan còn
thanh lý một số lượng lớn vũ khí khí tài bao gồm 17 máy bay trực thăng AS532
Cougar, 1 máy bay vận tải quân sự DC-10 và 19 chiếc F-16. Với 19 chiếc F-16, lâu
nay Chile là bạn hàng thân thiết của Hà Lan, nên Indonesia khó có thể cạnh tranh
để mua lại.
Những nỗ lực của Indonesia để
lấp "lỗ thủng" trong quốc phòng và thay thế các loại vũ khí đã cũ kỹ, lạc hậu
hiện nay là hậu quả để lại từ năm 1993, khi Mỹ tiến hành bao vây ngoại giao và
cấm vận kinh tế đối với nước này. Do chính sách cấm vận của Mỹ mà suốt một thời
gian dài Indonesia không thể mua phụ tùng để sửa chữa vũ khí, khí tài trên thị
trường quốc tế. Cái cớ để Mỹ cấm vận là Indonesia đã dùng vũ lực tấn công Đông
Timor, tỉnh Aceh. Riêng ở Aceh, cuộc nội chiến kéo dài hơn 30 năm, làm 15 nghìn
người chết. Đến năm 1999, nhiều nước châu Âu cũng tham gia lệnh cấm vận, khiến
Indonesia rơi vào tình thế khó khăn hơn.
Đến năm 2005, Mỹ khôi phục lại
quan hệ ngoại giao với Indonesia. Trong khi đó một số quốc gia châu Âu vẫn tiếp
tục chính sách cấm vận. Trong số này có Anh, nước cương quyết không bán cho
Indonesia loại tiêm kích Eurofighter Typhoon. Có lẽ vì lý do này mà Hà Lan ngần
ngại chuyện bán lại xe tăng Leopard 2A6 cho Indonesia.
Trong "cuộc chơi" này, việc
quốc tế cấm vận Indonesia lại mang đến vận may cho Nga, quốc gia đang rất quan
tâm thị trường mua bán vũ khí ở Đông Nam Á. Nga đang hy vọng rồi đây Indonesia
sẽ là bạn hàng truyền thống của mình. Bước đi đầu tiên đã xong, trong vòng 20
năm tới Indonesia sẽ còn mua thêm 180 chiếc máy bay Su các loại nữa.
Ngữ Tử
Yên
Theo thông tin từ nhiều báo đài
Nga, Indonesia vừa thỏa thuận sơ bộ sẽ mua 6 chiếc máy bay tiêm kích Su-MK2 và
một số loại vũ khí khác của Nga. Hơn thế, Nga cho Indonesia vay tiền để mua các
loại vũ khí này.
Báo điện tử Lenta của Nga đưa tin, trong vài tháng tới, Indonesia sẽ ký thỏa thuận mua của Nga 6 chiếc Su-MK2, tăng T-90, máy bay trực thăng Mi-17, Mi-35, xe bọc thép BMP-3... Quan trọng hơn, hầu hết các loại vũ khí trên là do Nga cho Indonesia vay tiền để mua. Bộ Quốc phòng Indonesia sẽ xác định các loại vũ khí, trang thiết bị đi kèm với loại Su-MK2 và sau đó ký hợp đồng. Theo lời ông Viktor Komardin - Phó tổng giám đốc cơ quan xuất khẩu vũ khí Nga Rosoboronexport, thỏa thuận "cứng" để mua Su-MK2 có thể sẽ được ký ngay vào cuối năm 2011 này.
Hiện chưa rõ giá trị của hợp đồng, nhưng theo đánh giá của phía Indonesia là sẽ không dưới 500 triệu USD. Ông Viktor Komardin cho biết, Indonesia rất quan tâm đến việc vay tiền Nga để mua vũ khí. "Chúng tôi muốn đáp ứng yêu cầu này, dù đây là bạn hàng có ngân sách khiêm tốn" - Viktor Komardin nói.

Trực thăng Mi-35 - Ảnh: wallpapers.ssdn.ru
Trước đó vào năm 2007, Nga cho
Indonesia vay 1 tỉ USD để mua vũ khí. Khi đó đất nước ở Đông Nam Á này mua của
xứ sở bạch dương 18 chiếc máy bay trực thăng đa năng Mi-17V5, 5 chiếc trực thăng
tấn công Mi-35P và 20 chiếc xe bọc thép BMP-3P. Bộ Quốc phòng Indonesia còn có
kế hoạch mua 2 tàu ngầm lớp dự án 877 "Paltus". Tuy nhiên, vào tháng 7.2009,
phía Indonesia thông báo việc mua tàu ngầm sẽ được thực hiện sau. Vào năm 2010,
Indonesia vay thêm 300 triệu USD của Nga, còn vào tháng 3 năm này, Ngân hàng
Ngoại thương Nga thông báo có thể cho Indonesia vay thêm tiền để ký hợp đồng mua
bán vũ khí với Rosoboronexport.
Nếu như thỏa thuận "cứng" giữa Indonesia và Nga sẽ ký kết trong tháng 12.2011, nó cho phép Nga tăng thêm doanh số xuất khẩu. Ở thời điểm hiện tại, theo số liệu của Rosoboronexport, số tiền đặt hàng mua vũ khí của Nga từ nước ngoài là 36 tỉ USD. Dự kiến năm 2011, chỉ tính riêng Rosoboronexport đã đạt 10 tỉ USD xuất khẩu vũ khí, tăng hơn 1 tỉ USD so với năm 2009. Còn tính chung thì năm 2009, Nga đạt 10 tỉ USD xuất khẩu vũ khí.
Dù chưa có gì chắc chắn, nhưng Nga khá tin tưởng vào việc Indonesia sẽ mua máy bay Su-MK2. Ngoài loại máy bay hiện đại này, họ còn hy vọng Indonesia sẽ mua thêm cả xe tăng T-90 và hệ thống phóng hỏa tiễn "Smerch". Cả hai bên đang thảo luận mọi khía cạnh khả thi của hợp đồng. Indonesia sẽ mua bao nhiêu chiếc tăng hiện chưa rõ, nhưng theo lời ông Viktor Komardin đây sẽ là hợp đồng "số lượng lớn". Không những thế, Indonesia còn quan tâm đến việc mua trực thăng Mi-17, Mi-35, xe bọc thép BMP-3 cũng như linh kiện, phụ tùng của máy bay thương hiệu "Su". Hiện có 10 chiếc Su được biên chế trong không lực Indonesia.
Indonesia đang tích cực thực
hiện chương trình phục hồi lực lượng quân đội của mình. Trong vòng 5 năm tới,
nước này có kế hoạch chi 200 nghìn tỉ rupiah (tương đương 22,1 tỉ USD) cho quốc
phòng. Trong đó, có 150 nghìn tỉ rupiah được chi cho không lực. Số tiền này sẽ
dùng để mua các loại máy bay chiến đấu và máy bay vận tải quân sự, nâng cấp các
loại máy bay mà Indonesia đang sở hữu.
Để nâng cao sức mạnh quân sự,
Indonesia sẽ huy động và tận dụng mọi khả năng có thể có. Nhân tiện nói thêm,
trước đây Mỹ từng đề nghị cung cấp (không lấy tiền) 24 chiếc máy bay tiêm kích
F-16 Fighting Falcon, còn Indonesia chỉ phải trả tiền sửa chữa hoặc nâng cấp
chúng vào khoảng 750 triệu USD. Đây là số tiền không lớn, đủ để mua 2 chiếc máy
bay mới với đầy đủ các trang thiết bị, vũ khí đi kèm. Với xe tăng, ngoài loại
T-90S, Indonesia còn có kế hoạch mua 60 chiếc Leopard 2A6 do Đức sản xuất. Số
tăng trên thuộc quân đội Hà Lan, nước mà theo chương trình cắt giảm ngân sách
quân sự của Liên minh châu Âu sẽ không sử dụng số tăng này vào năm 2014. Hiện Bộ
Ngoại giao và Bộ Kinh tế Hà Lan đang kiểm tra liệu hợp đồng mua bán có vi phạm
các công ước quốc tế nào hay không. Một vài chuyên gia quân sự tỏ ý không nên
bán tăng Leopard 2A6 cho Indonesia.
Nhưng không loại trừ việc Hà Lan sẽ quyết định bán số tăng này cho Indonesia. Trong thời gian tới, Hà Lan còn thanh lý một số lượng lớn vũ khí khí tài bao gồm 17 máy bay trực thăng AS532 Cougar, 1 máy bay vận tải quân sự DC-10 và 19 chiếc F-16. Với 19 chiếc F-16, lâu nay Chile là bạn hàng thân thiết của Hà Lan, nên Indonesia khó có thể cạnh tranh để mua lại.
Những nỗ lực của Indonesia để lấp "lỗ thủng" trong quốc phòng và thay thế các loại vũ khí đã cũ kỹ, lạc hậu hiện nay là hậu quả để lại từ năm 1993, khi Mỹ tiến hành bao vây ngoại giao và cấm vận kinh tế đối với nước này. Do chính sách cấm vận của Mỹ mà suốt một thời gian dài Indonesia không thể mua phụ tùng để sửa chữa vũ khí, khí tài trên thị trường quốc tế. Cái cớ để Mỹ cấm vận là Indonesia đã dùng vũ lực tấn công Đông Timor, tỉnh Aceh. Riêng ở Aceh, cuộc nội chiến kéo dài hơn 30 năm, làm 15 nghìn người chết. Đến năm 1999, nhiều nước châu Âu cũng tham gia lệnh cấm vận, khiến Indonesia rơi vào tình thế khó khăn hơn.
Đến năm 2005, Mỹ khôi phục lại quan hệ ngoại giao với Indonesia. Trong khi đó một số quốc gia châu Âu vẫn tiếp tục chính sách cấm vận. Trong số này có Anh, nước cương quyết không bán cho Indonesia loại tiêm kích Eurofighter Typhoon. Có lẽ vì lý do này mà Hà Lan ngần ngại chuyện bán lại xe tăng Leopard 2A6 cho Indonesia.
Trong "cuộc chơi" này, việc quốc tế cấm vận Indonesia lại mang đến vận may cho Nga, quốc gia đang rất quan tâm thị trường mua bán vũ khí ở Đông Nam Á. Nga đang hy vọng rồi đây Indonesia sẽ là bạn hàng truyền thống của mình. Bước đi đầu tiên đã xong, trong vòng 20 năm tới Indonesia sẽ còn mua thêm 180 chiếc máy bay Su các loại nữa.
Ngữ Tử Yên
Báo điện tử Lenta của Nga đưa tin, trong vài tháng tới, Indonesia sẽ ký thỏa thuận mua của Nga 6 chiếc Su-MK2, tăng T-90, máy bay trực thăng Mi-17, Mi-35, xe bọc thép BMP-3... Quan trọng hơn, hầu hết các loại vũ khí trên là do Nga cho Indonesia vay tiền để mua. Bộ Quốc phòng Indonesia sẽ xác định các loại vũ khí, trang thiết bị đi kèm với loại Su-MK2 và sau đó ký hợp đồng. Theo lời ông Viktor Komardin - Phó tổng giám đốc cơ quan xuất khẩu vũ khí Nga Rosoboronexport, thỏa thuận "cứng" để mua Su-MK2 có thể sẽ được ký ngay vào cuối năm 2011 này.
Hiện chưa rõ giá trị của hợp đồng, nhưng theo đánh giá của phía Indonesia là sẽ không dưới 500 triệu USD. Ông Viktor Komardin cho biết, Indonesia rất quan tâm đến việc vay tiền Nga để mua vũ khí. "Chúng tôi muốn đáp ứng yêu cầu này, dù đây là bạn hàng có ngân sách khiêm tốn" - Viktor Komardin nói.
Trực thăng Mi-35 - Ảnh: wallpapers.ssdn.ru
Nếu như thỏa thuận "cứng" giữa Indonesia và Nga sẽ ký kết trong tháng 12.2011, nó cho phép Nga tăng thêm doanh số xuất khẩu. Ở thời điểm hiện tại, theo số liệu của Rosoboronexport, số tiền đặt hàng mua vũ khí của Nga từ nước ngoài là 36 tỉ USD. Dự kiến năm 2011, chỉ tính riêng Rosoboronexport đã đạt 10 tỉ USD xuất khẩu vũ khí, tăng hơn 1 tỉ USD so với năm 2009. Còn tính chung thì năm 2009, Nga đạt 10 tỉ USD xuất khẩu vũ khí.
Dù chưa có gì chắc chắn, nhưng Nga khá tin tưởng vào việc Indonesia sẽ mua máy bay Su-MK2. Ngoài loại máy bay hiện đại này, họ còn hy vọng Indonesia sẽ mua thêm cả xe tăng T-90 và hệ thống phóng hỏa tiễn "Smerch". Cả hai bên đang thảo luận mọi khía cạnh khả thi của hợp đồng. Indonesia sẽ mua bao nhiêu chiếc tăng hiện chưa rõ, nhưng theo lời ông Viktor Komardin đây sẽ là hợp đồng "số lượng lớn". Không những thế, Indonesia còn quan tâm đến việc mua trực thăng Mi-17, Mi-35, xe bọc thép BMP-3 cũng như linh kiện, phụ tùng của máy bay thương hiệu "Su". Hiện có 10 chiếc Su được biên chế trong không lực Indonesia.
|
Indonesia rất quan tâm đến loại tăng T-90 của Nga |
|
|
|
Hiện quân đội Indonesia có 2 chiếc
Su-30M, 3 chiếc Su-30MK2, 2 chiếc Su-27SK và 3 chiếc Su-27SKM. Trước đây Bộ Quốc
phòng Indonesia thông báo, các dòng máy bay ký hiệu MK và SK sẽ được nâng cấp
lên thành dòng ML2 và SKM. Thông tin Indonesia đẩy nhanh thời hạn mua thêm 6
chiếc Su có từ tháng 9.2010. Khi đó, đất nước vạn đảo thông báo sẽ mua thêm 180
chiếc máy bay tiêm kích Su nữa. Về phía mình, Rosoboronexport sẽ mở các trung
tâm sửa chữa, bảo dưỡng vũ khí, khí tài Liên Xô (cũ) và Nga tại
Indonesia.
|
|
|
Nhưng không loại trừ việc Hà Lan sẽ quyết định bán số tăng này cho Indonesia. Trong thời gian tới, Hà Lan còn thanh lý một số lượng lớn vũ khí khí tài bao gồm 17 máy bay trực thăng AS532 Cougar, 1 máy bay vận tải quân sự DC-10 và 19 chiếc F-16. Với 19 chiếc F-16, lâu nay Chile là bạn hàng thân thiết của Hà Lan, nên Indonesia khó có thể cạnh tranh để mua lại.
Những nỗ lực của Indonesia để lấp "lỗ thủng" trong quốc phòng và thay thế các loại vũ khí đã cũ kỹ, lạc hậu hiện nay là hậu quả để lại từ năm 1993, khi Mỹ tiến hành bao vây ngoại giao và cấm vận kinh tế đối với nước này. Do chính sách cấm vận của Mỹ mà suốt một thời gian dài Indonesia không thể mua phụ tùng để sửa chữa vũ khí, khí tài trên thị trường quốc tế. Cái cớ để Mỹ cấm vận là Indonesia đã dùng vũ lực tấn công Đông Timor, tỉnh Aceh. Riêng ở Aceh, cuộc nội chiến kéo dài hơn 30 năm, làm 15 nghìn người chết. Đến năm 1999, nhiều nước châu Âu cũng tham gia lệnh cấm vận, khiến Indonesia rơi vào tình thế khó khăn hơn.
Đến năm 2005, Mỹ khôi phục lại quan hệ ngoại giao với Indonesia. Trong khi đó một số quốc gia châu Âu vẫn tiếp tục chính sách cấm vận. Trong số này có Anh, nước cương quyết không bán cho Indonesia loại tiêm kích Eurofighter Typhoon. Có lẽ vì lý do này mà Hà Lan ngần ngại chuyện bán lại xe tăng Leopard 2A6 cho Indonesia.
Trong "cuộc chơi" này, việc quốc tế cấm vận Indonesia lại mang đến vận may cho Nga, quốc gia đang rất quan tâm thị trường mua bán vũ khí ở Đông Nam Á. Nga đang hy vọng rồi đây Indonesia sẽ là bạn hàng truyền thống của mình. Bước đi đầu tiên đã xong, trong vòng 20 năm tới Indonesia sẽ còn mua thêm 180 chiếc máy bay Su các loại nữa.
Ngữ Tử Yên
Úc đóng mới tàu ngầm
Bộ Quốc phòng Úc vừa công bố
tiến hành đấu thầu để thiết kế loại tàu ngầm mới, nhằm thay thế cho loại tàu
ngầm lớp Collins. Ngoài ra, Úc còn lên kế hoạch trong vòng vài chục năm sẽ vừa
đào tạo nguồn nhân lực, vừa tiến hành các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực
này.
Trước đây, vào tháng 12.2007,
Bộ Quốc phòng Úc từng tuyên bố sẽ thay thế tàu ngầm lớp Collins bằng các loại
tàu ngầm mới. Tới năm 2008, Úc thành lập một nhóm làm việc nhằm hiện thực hóa
chương trình này. Chương trình thiết kế, sản xuất tàu ngầm thế hệ mới gọi là SEA
1.000. Sau đó một năm - 2009, chính phủ Úc quyết định sẽ nâng hạm đội tàu ngầm
từ 6 chiếc lên 12 chiếc và dự định sẽ chi 26 tỉ AUD (tương đương 25,8 tỉ USD)
cho chương trình này.
Các thông tin chi tiết về
chương trình tàu ngầm của Úc đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Bộ Quốc phòng và
Chính phủ Úc tuyên bố rằng, việc nâng cấp, đổi mới hạm đội tàu ngầm là cần
thiết, bởi các quốc gia trong khu vực đang hiện thực hóa chương trình nâng cấp,
đóng mới nhiều loại tàu ngầm. Và thực ra SEA 1.000 là biện pháp cần thiết chỉ để
duy trì thế cân bằng trong khu vực.

Tàu ngầm lớp Collins
- Ảnh: Wikipedia
Vào năm 2006, Bộ Quốc phòng Úc
từng tuyên bố, trong vòng một vài năm tới khó có chuyện lực lượng nào đó tấn
công đất nước này, tuy vậy, các băng nhóm khủng bố và sự căng thẳng giữa một vài
quốc gia Đông Á có thể đe dọa an ninh của Úc.
Vào ngày 13.12.2011, Bộ Quốc
phòng Úc tuyên bố đấu thầu về thiết kế kỹ thuật cho loại tàu ngầm mới. Cơ quan
này mời một số hãng danh tiếng tham dự đấu thầu như hãng DCNS của Pháp, Navantia
của Tây Ban Nha, HDW của Đức. Theo thứ tự các hãng này đã thiết kế và đóng các
loại tàu lớp Scorpene, S-80 và Type U-212.
Đáng nói là hãng đóng tàu
Kockums tuy khá có tiếng tăm, nhưng không được mời dự thầu. Kockums từng đóng
loại tàu ngầm lớp Collins cho Úc vào cuối những năm 1980. Tuy nhiên, lực lượng
hải quân Úc tỏ ra không hài lòng với loại tàu này vì động cơ, hay hệ thống điều
khiển vũ khí cũng như một số bộ phận khác thường hay trục trặc. Ngoài ra, khi
thử nghiệm, loại tàu này còn chạy quá tốc độ thiết kế hay lặn quá sâu… Có lẽ do
vậy mà Kockums không góp mặt trong chương trình thiết kế và đóng mới tàu ngầm
của Úc.
Tàu ngầm lớp Collins được biên
chế vào hải quân Úc năm 1996 và đến năm 2003 thì hầu như ngừng sử dụng (hiện chỉ
còn 2 chiếc còn lưu dụng). Đây quả là thời gian rất ngắn đối với một loại tàu
ngầm và đó cũng là sự hợp lý vì nó luôn bị trục trặc, không đảm bảo cho tác
chiến những khi cần thiết. Ngoài ra cũng cần phải nói đến yếu tố con người. Theo
thời gian, đội ngũ những người có thể vận hành được tàu ngầm lớp Collins ngày
càng thưa thớt do hết thời hạn phục vụ quân đội hay về hưu, trong khi từ năm
2008, hải quân Úc lại không đào tạo mới nguồn nhân lực thay thế.

Tàu ngầm lớp Rankin -
Ảnh: Wikipedia
Hiện hải quân Úc ngoài 2 chiếc
tàu ngầm lớp Collins, còn có các loại tàu ngầm khác như Farncombe, Waller,
"Deschenes", Sheehan và Rankin. Hầu hết các tàu ngầm này đang nằm trng diện
thuộc chương trình hiện đại hóa của Úc. Trước hết, từ nay đến 2014 chúng sẽ được
thay thế hoàn toàn mới hệ thống điều khiển vũ khí. Còn trong hai năm 2016 -
2017, sẽ lắp đặt hệ thống định vị và phát hiện mục tiêu bằng sóng siêu âm loại
mới cho chúng.
Theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng
Úc, loại tàu ngầm lớp Collins sẽ còn phục vụ quân đội ít nhất là đến năm 2020.
Chúng được dùng làm tàu tuần tra và làm tàu huấn luyện để đào tạo nguồn nhân lực
cho các loại tàu ngầm mới trong tương lai.
Hiện chưa xác định được thời
hạn đóng mới tàu ngầm của Úc, nhưng theo đánh giá của chính phủ Úc vào khoảng
năm 2025 - 2027 chúng sẽ bắt đầu biên chế vào quân đội. Như vậy, từ thiết kế,
đóng mới đến đào tạo nhân lực đòi hỏi thời gian phải vài chục năm, nếu không
muốn nói sẽ còn lâu hơn thế.
Các tiêu chí kỹ thuật của loại
tàu ngầm mới vẫn chưa được Úc công bố, nhưng chắc chắn đó sẽ không phải là loại
tàu ngầm hạt nhân. Bởi trên lãnh thổ Úc không có các nhà máy, cơ sở đủ để đáp
ứng công tác vận hành, duy tu, bảo dưỡng loại tàu ngầm hạt nhân. Vì thế, nhiều
khả năng đó sẽ là loại tàu ngầm động cơ diesel-điện. Loại tàu ngầm này sẽ gắn
các loại ắc-quy và hệ thống thông tin do các nhà máy của Úc sản xuất.
Loại tàu ngầm mới của Úc sẽ
được trang bị nhiều vũ khí hơn so với tàu ngầm lớp Collins. Nó sẽ có tên lửa
hành trình loại tầm trung và tầm xa, ngư lôi, thủy lôi. Vào năm 2007, đại diện
Bộ Quốc phòng Úc còn tuyên bố đang xem xét thiết kế loại "siêu" tàu ngầm, vừa có
thể tuần tra, trinh sát, lại vừa có thể chuyên chở lính thủy đánh bộ để đổ bộ
vào vùng cần tác chiến.
Theo lời ông Jason Clare - Bộ
trưởng Hậu cần Úc, chương trình thiết kế đóng mới tàu ngầm sẽ có sự tham dự của
hàng trăm hãng trong và ngoài nước với lực lượng nhân công lên đến hàng nghìn
người. "Một số công đoạn quan trọng đã có các hãng nước ngoài đảm nhiệm và các
công đoạn khác chúng tôi phải tự lo. Đã đến lúc thực hiện chương trình, chúng
tôi sẽ học hỏi, tích lũy kinh nghiệm để đóng tàu ngầm", ông Jason Clare nói. Một
số công đoạn quan trọng như Jason Clare nói đó là động cơ của tàu ngầm. Hiện Úc
đang đàm phán với hãng Babcock của Anh về vấn đề này. Ngoài ra, một số vấn đề kỹ
thuật, công nghệ khác đang được đàm phán với Mỹ…
Dù từ năm 2006 đến nay, Bộ Quốc
phòng Úc chưa xem xét lại các khả năng đe dọa đến an ninh của đất nước này,
nhưng chính phủ Úc luôn ủng hộ quân đội. Hằng năm, ngân sách quốc phòng luôn
tăng trung bình 4%/năm để Bộ Quốc phòng Úc hiện thực hóa chương trình tăng cường
sức mạnh quân sự. Năm 2011 này ngân sách quốc phòng của Úc là 25,7 tỉ USD. Ngoài
ra, từ năm 2009, chính phủ Úc tuyên bố để đổi mới quân đội sẽ chi bổ sung 70 tỉ
USD. Trong bối cảnh đó, vào năm 2012, chương trình SEA 1.000 nhiều khả năng sẽ
có các thông tin mới và chi tiết hơn.
Ngữ Tử
Yên
Bộ Quốc phòng Úc vừa công bố
tiến hành đấu thầu để thiết kế loại tàu ngầm mới, nhằm thay thế cho loại tàu
ngầm lớp Collins. Ngoài ra, Úc còn lên kế hoạch trong vòng vài chục năm sẽ vừa
đào tạo nguồn nhân lực, vừa tiến hành các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực
này.
Trước đây, vào tháng 12.2007, Bộ Quốc phòng Úc từng tuyên bố sẽ thay thế tàu ngầm lớp Collins bằng các loại tàu ngầm mới. Tới năm 2008, Úc thành lập một nhóm làm việc nhằm hiện thực hóa chương trình này. Chương trình thiết kế, sản xuất tàu ngầm thế hệ mới gọi là SEA 1.000. Sau đó một năm - 2009, chính phủ Úc quyết định sẽ nâng hạm đội tàu ngầm từ 6 chiếc lên 12 chiếc và dự định sẽ chi 26 tỉ AUD (tương đương 25,8 tỉ USD) cho chương trình này.
Các thông tin chi tiết về chương trình tàu ngầm của Úc đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Bộ Quốc phòng và Chính phủ Úc tuyên bố rằng, việc nâng cấp, đổi mới hạm đội tàu ngầm là cần thiết, bởi các quốc gia trong khu vực đang hiện thực hóa chương trình nâng cấp, đóng mới nhiều loại tàu ngầm. Và thực ra SEA 1.000 là biện pháp cần thiết chỉ để duy trì thế cân bằng trong khu vực.
Vào năm 2006, Bộ Quốc phòng Úc
từng tuyên bố, trong vòng một vài năm tới khó có chuyện lực lượng nào đó tấn
công đất nước này, tuy vậy, các băng nhóm khủng bố và sự căng thẳng giữa một vài
quốc gia Đông Á có thể đe dọa an ninh của Úc.
Vào ngày 13.12.2011, Bộ Quốc phòng Úc tuyên bố đấu thầu về thiết kế kỹ thuật cho loại tàu ngầm mới. Cơ quan này mời một số hãng danh tiếng tham dự đấu thầu như hãng DCNS của Pháp, Navantia của Tây Ban Nha, HDW của Đức. Theo thứ tự các hãng này đã thiết kế và đóng các loại tàu lớp Scorpene, S-80 và Type U-212.
Đáng nói là hãng đóng tàu Kockums tuy khá có tiếng tăm, nhưng không được mời dự thầu. Kockums từng đóng loại tàu ngầm lớp Collins cho Úc vào cuối những năm 1980. Tuy nhiên, lực lượng hải quân Úc tỏ ra không hài lòng với loại tàu này vì động cơ, hay hệ thống điều khiển vũ khí cũng như một số bộ phận khác thường hay trục trặc. Ngoài ra, khi thử nghiệm, loại tàu này còn chạy quá tốc độ thiết kế hay lặn quá sâu… Có lẽ do vậy mà Kockums không góp mặt trong chương trình thiết kế và đóng mới tàu ngầm của Úc.
Tàu ngầm lớp Collins được biên chế vào hải quân Úc năm 1996 và đến năm 2003 thì hầu như ngừng sử dụng (hiện chỉ còn 2 chiếc còn lưu dụng). Đây quả là thời gian rất ngắn đối với một loại tàu ngầm và đó cũng là sự hợp lý vì nó luôn bị trục trặc, không đảm bảo cho tác chiến những khi cần thiết. Ngoài ra cũng cần phải nói đến yếu tố con người. Theo thời gian, đội ngũ những người có thể vận hành được tàu ngầm lớp Collins ngày càng thưa thớt do hết thời hạn phục vụ quân đội hay về hưu, trong khi từ năm 2008, hải quân Úc lại không đào tạo mới nguồn nhân lực thay thế.
Hiện hải quân Úc ngoài 2 chiếc
tàu ngầm lớp Collins, còn có các loại tàu ngầm khác như Farncombe, Waller,
"Deschenes", Sheehan và Rankin. Hầu hết các tàu ngầm này đang nằm trng diện
thuộc chương trình hiện đại hóa của Úc. Trước hết, từ nay đến 2014 chúng sẽ được
thay thế hoàn toàn mới hệ thống điều khiển vũ khí. Còn trong hai năm 2016 -
2017, sẽ lắp đặt hệ thống định vị và phát hiện mục tiêu bằng sóng siêu âm loại
mới cho chúng.
Theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng Úc, loại tàu ngầm lớp Collins sẽ còn phục vụ quân đội ít nhất là đến năm 2020. Chúng được dùng làm tàu tuần tra và làm tàu huấn luyện để đào tạo nguồn nhân lực cho các loại tàu ngầm mới trong tương lai.
Hiện chưa xác định được thời hạn đóng mới tàu ngầm của Úc, nhưng theo đánh giá của chính phủ Úc vào khoảng năm 2025 - 2027 chúng sẽ bắt đầu biên chế vào quân đội. Như vậy, từ thiết kế, đóng mới đến đào tạo nhân lực đòi hỏi thời gian phải vài chục năm, nếu không muốn nói sẽ còn lâu hơn thế.
Các tiêu chí kỹ thuật của loại tàu ngầm mới vẫn chưa được Úc công bố, nhưng chắc chắn đó sẽ không phải là loại tàu ngầm hạt nhân. Bởi trên lãnh thổ Úc không có các nhà máy, cơ sở đủ để đáp ứng công tác vận hành, duy tu, bảo dưỡng loại tàu ngầm hạt nhân. Vì thế, nhiều khả năng đó sẽ là loại tàu ngầm động cơ diesel-điện. Loại tàu ngầm này sẽ gắn các loại ắc-quy và hệ thống thông tin do các nhà máy của Úc sản xuất.
Loại tàu ngầm mới của Úc sẽ được trang bị nhiều vũ khí hơn so với tàu ngầm lớp Collins. Nó sẽ có tên lửa hành trình loại tầm trung và tầm xa, ngư lôi, thủy lôi. Vào năm 2007, đại diện Bộ Quốc phòng Úc còn tuyên bố đang xem xét thiết kế loại "siêu" tàu ngầm, vừa có thể tuần tra, trinh sát, lại vừa có thể chuyên chở lính thủy đánh bộ để đổ bộ vào vùng cần tác chiến.
Theo lời ông Jason Clare - Bộ trưởng Hậu cần Úc, chương trình thiết kế đóng mới tàu ngầm sẽ có sự tham dự của hàng trăm hãng trong và ngoài nước với lực lượng nhân công lên đến hàng nghìn người. "Một số công đoạn quan trọng đã có các hãng nước ngoài đảm nhiệm và các công đoạn khác chúng tôi phải tự lo. Đã đến lúc thực hiện chương trình, chúng tôi sẽ học hỏi, tích lũy kinh nghiệm để đóng tàu ngầm", ông Jason Clare nói. Một số công đoạn quan trọng như Jason Clare nói đó là động cơ của tàu ngầm. Hiện Úc đang đàm phán với hãng Babcock của Anh về vấn đề này. Ngoài ra, một số vấn đề kỹ thuật, công nghệ khác đang được đàm phán với Mỹ…
Dù từ năm 2006 đến nay, Bộ Quốc phòng Úc chưa xem xét lại các khả năng đe dọa đến an ninh của đất nước này, nhưng chính phủ Úc luôn ủng hộ quân đội. Hằng năm, ngân sách quốc phòng luôn tăng trung bình 4%/năm để Bộ Quốc phòng Úc hiện thực hóa chương trình tăng cường sức mạnh quân sự. Năm 2011 này ngân sách quốc phòng của Úc là 25,7 tỉ USD. Ngoài ra, từ năm 2009, chính phủ Úc tuyên bố để đổi mới quân đội sẽ chi bổ sung 70 tỉ USD. Trong bối cảnh đó, vào năm 2012, chương trình SEA 1.000 nhiều khả năng sẽ có các thông tin mới và chi tiết hơn.
Ngữ Tử Yên
Trước đây, vào tháng 12.2007, Bộ Quốc phòng Úc từng tuyên bố sẽ thay thế tàu ngầm lớp Collins bằng các loại tàu ngầm mới. Tới năm 2008, Úc thành lập một nhóm làm việc nhằm hiện thực hóa chương trình này. Chương trình thiết kế, sản xuất tàu ngầm thế hệ mới gọi là SEA 1.000. Sau đó một năm - 2009, chính phủ Úc quyết định sẽ nâng hạm đội tàu ngầm từ 6 chiếc lên 12 chiếc và dự định sẽ chi 26 tỉ AUD (tương đương 25,8 tỉ USD) cho chương trình này.
Các thông tin chi tiết về chương trình tàu ngầm của Úc đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Bộ Quốc phòng và Chính phủ Úc tuyên bố rằng, việc nâng cấp, đổi mới hạm đội tàu ngầm là cần thiết, bởi các quốc gia trong khu vực đang hiện thực hóa chương trình nâng cấp, đóng mới nhiều loại tàu ngầm. Và thực ra SEA 1.000 là biện pháp cần thiết chỉ để duy trì thế cân bằng trong khu vực.
|
Tàu ngầm lớp Collins - Ảnh: Wikipedia |
Vào ngày 13.12.2011, Bộ Quốc phòng Úc tuyên bố đấu thầu về thiết kế kỹ thuật cho loại tàu ngầm mới. Cơ quan này mời một số hãng danh tiếng tham dự đấu thầu như hãng DCNS của Pháp, Navantia của Tây Ban Nha, HDW của Đức. Theo thứ tự các hãng này đã thiết kế và đóng các loại tàu lớp Scorpene, S-80 và Type U-212.
Đáng nói là hãng đóng tàu Kockums tuy khá có tiếng tăm, nhưng không được mời dự thầu. Kockums từng đóng loại tàu ngầm lớp Collins cho Úc vào cuối những năm 1980. Tuy nhiên, lực lượng hải quân Úc tỏ ra không hài lòng với loại tàu này vì động cơ, hay hệ thống điều khiển vũ khí cũng như một số bộ phận khác thường hay trục trặc. Ngoài ra, khi thử nghiệm, loại tàu này còn chạy quá tốc độ thiết kế hay lặn quá sâu… Có lẽ do vậy mà Kockums không góp mặt trong chương trình thiết kế và đóng mới tàu ngầm của Úc.
Tàu ngầm lớp Collins được biên chế vào hải quân Úc năm 1996 và đến năm 2003 thì hầu như ngừng sử dụng (hiện chỉ còn 2 chiếc còn lưu dụng). Đây quả là thời gian rất ngắn đối với một loại tàu ngầm và đó cũng là sự hợp lý vì nó luôn bị trục trặc, không đảm bảo cho tác chiến những khi cần thiết. Ngoài ra cũng cần phải nói đến yếu tố con người. Theo thời gian, đội ngũ những người có thể vận hành được tàu ngầm lớp Collins ngày càng thưa thớt do hết thời hạn phục vụ quân đội hay về hưu, trong khi từ năm 2008, hải quân Úc lại không đào tạo mới nguồn nhân lực thay thế.
|
Tàu ngầm lớp Rankin - Ảnh: Wikipedia |
Theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng Úc, loại tàu ngầm lớp Collins sẽ còn phục vụ quân đội ít nhất là đến năm 2020. Chúng được dùng làm tàu tuần tra và làm tàu huấn luyện để đào tạo nguồn nhân lực cho các loại tàu ngầm mới trong tương lai.
Hiện chưa xác định được thời hạn đóng mới tàu ngầm của Úc, nhưng theo đánh giá của chính phủ Úc vào khoảng năm 2025 - 2027 chúng sẽ bắt đầu biên chế vào quân đội. Như vậy, từ thiết kế, đóng mới đến đào tạo nhân lực đòi hỏi thời gian phải vài chục năm, nếu không muốn nói sẽ còn lâu hơn thế.
Các tiêu chí kỹ thuật của loại tàu ngầm mới vẫn chưa được Úc công bố, nhưng chắc chắn đó sẽ không phải là loại tàu ngầm hạt nhân. Bởi trên lãnh thổ Úc không có các nhà máy, cơ sở đủ để đáp ứng công tác vận hành, duy tu, bảo dưỡng loại tàu ngầm hạt nhân. Vì thế, nhiều khả năng đó sẽ là loại tàu ngầm động cơ diesel-điện. Loại tàu ngầm này sẽ gắn các loại ắc-quy và hệ thống thông tin do các nhà máy của Úc sản xuất.
Loại tàu ngầm mới của Úc sẽ được trang bị nhiều vũ khí hơn so với tàu ngầm lớp Collins. Nó sẽ có tên lửa hành trình loại tầm trung và tầm xa, ngư lôi, thủy lôi. Vào năm 2007, đại diện Bộ Quốc phòng Úc còn tuyên bố đang xem xét thiết kế loại "siêu" tàu ngầm, vừa có thể tuần tra, trinh sát, lại vừa có thể chuyên chở lính thủy đánh bộ để đổ bộ vào vùng cần tác chiến.
Theo lời ông Jason Clare - Bộ trưởng Hậu cần Úc, chương trình thiết kế đóng mới tàu ngầm sẽ có sự tham dự của hàng trăm hãng trong và ngoài nước với lực lượng nhân công lên đến hàng nghìn người. "Một số công đoạn quan trọng đã có các hãng nước ngoài đảm nhiệm và các công đoạn khác chúng tôi phải tự lo. Đã đến lúc thực hiện chương trình, chúng tôi sẽ học hỏi, tích lũy kinh nghiệm để đóng tàu ngầm", ông Jason Clare nói. Một số công đoạn quan trọng như Jason Clare nói đó là động cơ của tàu ngầm. Hiện Úc đang đàm phán với hãng Babcock của Anh về vấn đề này. Ngoài ra, một số vấn đề kỹ thuật, công nghệ khác đang được đàm phán với Mỹ…
Dù từ năm 2006 đến nay, Bộ Quốc phòng Úc chưa xem xét lại các khả năng đe dọa đến an ninh của đất nước này, nhưng chính phủ Úc luôn ủng hộ quân đội. Hằng năm, ngân sách quốc phòng luôn tăng trung bình 4%/năm để Bộ Quốc phòng Úc hiện thực hóa chương trình tăng cường sức mạnh quân sự. Năm 2011 này ngân sách quốc phòng của Úc là 25,7 tỉ USD. Ngoài ra, từ năm 2009, chính phủ Úc tuyên bố để đổi mới quân đội sẽ chi bổ sung 70 tỉ USD. Trong bối cảnh đó, vào năm 2012, chương trình SEA 1.000 nhiều khả năng sẽ có các thông tin mới và chi tiết hơn.
Ngữ Tử Yên
Robot dưới nước
Bộ Quốc phòng Nga hiện đang
tiến hành mua các phương tiện không người lái dưới nước (robot dưới nước) do
Công ty Teledyne Gavia (Iceland) sản xuất. Các phương tiện này được sử dụng để
do thám, quét mìn và chống tàu ngầm.
Trước mắt Bộ Quốc phòng Nga sẽ
chi 24,5 triệu USD (744,244 triệu rup) để mua 8 robot dưới nước của Gavia. Theo
điều kiện khi đấu thầu vào ngày 27.2, tiền đặt cọc là hơn 1 triệu USD (37,1
triệu rup). Sau đó sẽ thanh toán theo tiến độ khi nhận 8 robot của
Gavia.
Theo kế hoạch, Gavia sẽ chuyển
cho Nga 3 robot năm 2012, 2 robot năm 2013 và 3 robot cuối cùng năm 2014. Tất cả
8 robot dưới nước này sẽ được vào biên chế đơn vị hải quân số 20334. Như vậy,
các thủy thủ Nga có lý do để vui mừng khi họ sở hữu trong tay trang thiết bị
hiện đại. Hẳn bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên, khi Iceland chỉ nổi tiếng về nghề cá,
hầu như công nghiệp không phát triển và dân số Iceland (trên 300 nghìn người)
chỉ bằng 1/3 số quân của Nga lại là nơi sản sinh ra loại robot dưới nước
này.
Trước đây, Nga cũng như nhiều
nước sử dụng tàu lặn có người lái, vừa đắt tiền, cồng kềnh, lại có khả năng xảy
ra rủi ro cho thủy thủ đoàn. Hơn thế, loại phương tiện này còn có điểm hạn chế
vì truyền tín hiệu bằng cáp, nên hạn chế độ sâu và tầm hoạt động. Tàu lặn có
người lái chủ yếu sử dụng cho các hoạt động khẩn cấp và trường hợp cứu nạn. Giờ
đây, robot dưới nước là giải pháp tốt hơn vì có nhiều ưu thế khi có thể tự hoạt
động.

Robot
của Gavia hoạt động dưới nước - Ảnh:
Gavia
Robot dưới nước hoạt động nhờ
chương trình cài đặt sẵn. Nó chuyển động, hoàn thành nhiệm vụ đề ra và trở về
với tàu mẹ hay căn cứ ven biển. Loại phương tiện này không sử dụng cáp, nhưng
khi nó hoạt động chúng ta vẫn có thể thông qua hệ thống vô tuyến để truyền tín
hiệu và ra các mệnh lệnh bổ sung, điều khiển tầm hoạt động của
nó.
Điểm mạnh của robot dưới nước
là tính cơ động và nó không cần tàu mẹ để chuyên chở. Nó có khả năng chở hàng
lặn sâu hơn so với tàu lặn có người lái. Tùy vào nguồn năng lượng, robot loại
này có thể hoạt động liên tục vài chục giờ đồng hồ.
Robot dưới nước của Gavia có
một môđun và có các phần hình trụ nối tiếp nhau, có khoang điều khiển, động cơ,
bình điện và các thiết bị hữu ích khác. Đường kính thân của loại robot này là 20
cm, còn chiều dài là 2,7m, cân nặng từ 48-79 kg. Trong quá trình thử nghiệm,
robot của Gavia hoạt động ở độ sâu 1.000m dưới mặt nước. Với hai bình điện, nó
hoạt động liên tục 45 giờ đồng hồ và tầm hoạt động đạt từ 90-100 km. Sản phẩm
của Gavia có 3 loại: thương mại, khoa học và quân sự.
Để vận hành robot của Gavia cần
từ 2-4 người. Có thể dùng xe tải hoặc xe bán tải để chở ra bãi biển và dùng tay
để đưa xuống nước. Hoặc nếu cần có thể đưa lên ca nô, tàu rồi thả xuống nước
cũng được. Để điều khiển từ xa, người ta dùng hệ thống thông tin liên lạc vệ
tinh Iridium. Loại robot dưới nước này tự động chụp ảnh, quay video, đo quét địa
hình dưới đáy biển, tìm kiếm, phát hiện tàu ngầm đối phương, tìm kiếm mìn, ngư
lôi, hay làm nhiệm vụ do thám.

Chuẩn bị đưa robot
của Gavia xuống biển

Do tính tiện dụng mà robot của
Gavia được nhiều nước chú ý và đặt mua. Năm 2004, Space and Naval Warfare
Systems Centre (SPAWAR, Mỹ) chi 10 triệu USD để mua 10 robot Avia. SPAWAR là một
trong ba bộ phận của hải quân Mỹ chuyên nghiên cứu và tiếp nhận các thông tin
mới về công nghệ. Ngay sau khi mua, Mỹ đã cho các robot hoạt động thử nghiệm
dưới mặt nước 200m để tìm kiếm mìn.
Năm 2008, hải quân Đan Mạch mua
vài robot dưới nước Gavia nhằm mục đích huấn luyện phòng vệ chống tấn công dưới
nước. Tới năm 2009, Bồ Đào Nha mua 2 robot loại này. Chi phí do NATO chi trả nên
2 robot có thể sử dụng ven biển các nước thành viên NATO. Sau 45 giờ sử dụng
robot dưới nước, các chuyên gia của Bồ Đào Nha cho biết: Nhờ có loại phương tiện
này mà tiết kiệm khá tốt khi không sử dụng một số tàu thuyền chuyên dụng có cùng
nhiệm vụ như vậy. Và đương nhiên nhân lực cũng tiết giảm đến mức thấp nhất. Loại
robot này còn tìm thấy chiếc tàu Super Eagle II chìm dưới độ sâu 50m tại Đại Tây
Dương, cách bờ biển gần 20 km. Từ tháng 6.2009, trong vòng vài tuần, các chuyên
gia Anh thuộc hãng NCS Survey với sự trợ giúp của robot Gavia đã nghiên cứu lòng
biển Caspian... Ngoài ra, còn nhiều hãng khác như Fugro Survey (Úc), British
Petroleum, một số các trường đại học của Iceland, Anh, Canada cũng dùng loại
robot dưới nước của Gavia cho mục đích nghiên cứu khoa học.
Việc Nga mua robot dưới nước
của Gavia là bước đi gây khá ngạc nhiên bởi Nga là cường quốc trong lĩnh vực
này. Từ những năm 1970, Liên Xô đã thiết kế robot dưới nước Skat và đến năm 1976
chính thức sản xuất robot dưới nước đầu tiên mang tên Skat-geo. Năm 1978,
Skat-geo được thử nghiệm thành công tại biển Trắng, sau đó nó được cải tiến và
sử dụng tại Thái Bình Dương, vùng Viễn Đông vào những năm 1991-1992. Từ đó đến
nay, Nga còn thiết kế và sản xuất nhiều loại robot dưới nước khác có khả năng
hoạt động ở độ sâu 4.200-4.600m. Dù vậy, Bộ Quốc phòng Nga vẫn không mua robot
dưới nước của Nga vì cho rằng chúng nặng và quá cồng kềnh. Động thái này buộc
các hãng sản xuất robot dưới nước của Nga phải nhanh chóng cải tiến sản phẩm của
mình. Nếu không, họ sẽ bị gạt ra khỏi "cuộc chơi" không chỉ trong lĩnh vực quân
sự mà cả dân sự nữa.
Hãng Hafmynd của Iceland phối hợp
với Đại học Tổng hợp Iceland bắt đầu thiết kế robot dưới nước từ năm 1997. Quốc
gia này không có công nghiệp điện tử nên các linh kiện như chip, các bộ điều
khiển... phải nhập về. Đến năm 2000, robot đầu tiên được bán cho một hãng của
Iceland, sau đó các hãng khác và giới chức quân sự bắt đầu quan tâm đến loại
robot này. Do Iceland bán khá chạy robot dưới nước nên các nhà sản xuất tại các
quốc gia khác đã chú ý tới mặt hàng này. Năm 2010, Hafmynd bị Teledyne Benthos
(chi nhánh của Tập đoàn Teledyne Technologies, Mỹ) mua lại và hiện là công ty
con của Teledyne Gavia. Do vậy dù hoạt động tại Iceland, nhưng hãng này vẫn
thuộc của Mỹ.
Ông Vương
Hoàng
|
|
|
|
Bộ Quốc phòng Nga hiện đang
tiến hành mua các phương tiện không người lái dưới nước (robot dưới nước) do
Công ty Teledyne Gavia (Iceland) sản xuất. Các phương tiện này được sử dụng để
do thám, quét mìn và chống tàu ngầm.
Trước mắt Bộ Quốc phòng Nga sẽ
chi 24,5 triệu USD (744,244 triệu rup) để mua 8 robot dưới nước của Gavia. Theo
điều kiện khi đấu thầu vào ngày 27.2, tiền đặt cọc là hơn 1 triệu USD (37,1
triệu rup). Sau đó sẽ thanh toán theo tiến độ khi nhận 8 robot của
Gavia.
Theo kế hoạch, Gavia sẽ chuyển
cho Nga 3 robot năm 2012, 2 robot năm 2013 và 3 robot cuối cùng năm 2014. Tất cả
8 robot dưới nước này sẽ được vào biên chế đơn vị hải quân số 20334. Như vậy,
các thủy thủ Nga có lý do để vui mừng khi họ sở hữu trong tay trang thiết bị
hiện đại. Hẳn bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên, khi Iceland chỉ nổi tiếng về nghề cá,
hầu như công nghiệp không phát triển và dân số Iceland (trên 300 nghìn người)
chỉ bằng 1/3 số quân của Nga lại là nơi sản sinh ra loại robot dưới nước
này.
Trước đây, Nga cũng như nhiều
nước sử dụng tàu lặn có người lái, vừa đắt tiền, cồng kềnh, lại có khả năng xảy
ra rủi ro cho thủy thủ đoàn. Hơn thế, loại phương tiện này còn có điểm hạn chế
vì truyền tín hiệu bằng cáp, nên hạn chế độ sâu và tầm hoạt động. Tàu lặn có
người lái chủ yếu sử dụng cho các hoạt động khẩn cấp và trường hợp cứu nạn. Giờ
đây, robot dưới nước là giải pháp tốt hơn vì có nhiều ưu thế khi có thể tự hoạt
động.
|
Robot của Gavia hoạt động dưới nước - Ảnh: Gavia |
Robot dưới nước hoạt động nhờ
chương trình cài đặt sẵn. Nó chuyển động, hoàn thành nhiệm vụ đề ra và trở về
với tàu mẹ hay căn cứ ven biển. Loại phương tiện này không sử dụng cáp, nhưng
khi nó hoạt động chúng ta vẫn có thể thông qua hệ thống vô tuyến để truyền tín
hiệu và ra các mệnh lệnh bổ sung, điều khiển tầm hoạt động của
nó.
Điểm mạnh của robot dưới nước
là tính cơ động và nó không cần tàu mẹ để chuyên chở. Nó có khả năng chở hàng
lặn sâu hơn so với tàu lặn có người lái. Tùy vào nguồn năng lượng, robot loại
này có thể hoạt động liên tục vài chục giờ đồng hồ.
Robot dưới nước của Gavia có
một môđun và có các phần hình trụ nối tiếp nhau, có khoang điều khiển, động cơ,
bình điện và các thiết bị hữu ích khác. Đường kính thân của loại robot này là 20
cm, còn chiều dài là 2,7m, cân nặng từ 48-79 kg. Trong quá trình thử nghiệm,
robot của Gavia hoạt động ở độ sâu 1.000m dưới mặt nước. Với hai bình điện, nó
hoạt động liên tục 45 giờ đồng hồ và tầm hoạt động đạt từ 90-100 km. Sản phẩm
của Gavia có 3 loại: thương mại, khoa học và quân sự.
Để vận hành robot của Gavia cần
từ 2-4 người. Có thể dùng xe tải hoặc xe bán tải để chở ra bãi biển và dùng tay
để đưa xuống nước. Hoặc nếu cần có thể đưa lên ca nô, tàu rồi thả xuống nước
cũng được. Để điều khiển từ xa, người ta dùng hệ thống thông tin liên lạc vệ
tinh Iridium. Loại robot dưới nước này tự động chụp ảnh, quay video, đo quét địa
hình dưới đáy biển, tìm kiếm, phát hiện tàu ngầm đối phương, tìm kiếm mìn, ngư
lôi, hay làm nhiệm vụ do thám.
|
Chuẩn bị đưa robot của Gavia xuống biển |
Do tính tiện dụng mà robot của
Gavia được nhiều nước chú ý và đặt mua. Năm 2004, Space and Naval Warfare
Systems Centre (SPAWAR, Mỹ) chi 10 triệu USD để mua 10 robot Avia. SPAWAR là một
trong ba bộ phận của hải quân Mỹ chuyên nghiên cứu và tiếp nhận các thông tin
mới về công nghệ. Ngay sau khi mua, Mỹ đã cho các robot hoạt động thử nghiệm
dưới mặt nước 200m để tìm kiếm mìn.
Năm 2008, hải quân Đan Mạch mua
vài robot dưới nước Gavia nhằm mục đích huấn luyện phòng vệ chống tấn công dưới
nước. Tới năm 2009, Bồ Đào Nha mua 2 robot loại này. Chi phí do NATO chi trả nên
2 robot có thể sử dụng ven biển các nước thành viên NATO. Sau 45 giờ sử dụng
robot dưới nước, các chuyên gia của Bồ Đào Nha cho biết: Nhờ có loại phương tiện
này mà tiết kiệm khá tốt khi không sử dụng một số tàu thuyền chuyên dụng có cùng
nhiệm vụ như vậy. Và đương nhiên nhân lực cũng tiết giảm đến mức thấp nhất. Loại
robot này còn tìm thấy chiếc tàu Super Eagle II chìm dưới độ sâu 50m tại Đại Tây
Dương, cách bờ biển gần 20 km. Từ tháng 6.2009, trong vòng vài tuần, các chuyên
gia Anh thuộc hãng NCS Survey với sự trợ giúp của robot Gavia đã nghiên cứu lòng
biển Caspian... Ngoài ra, còn nhiều hãng khác như Fugro Survey (Úc), British
Petroleum, một số các trường đại học của Iceland, Anh, Canada cũng dùng loại
robot dưới nước của Gavia cho mục đích nghiên cứu khoa học.
Việc Nga mua robot dưới nước
của Gavia là bước đi gây khá ngạc nhiên bởi Nga là cường quốc trong lĩnh vực
này. Từ những năm 1970, Liên Xô đã thiết kế robot dưới nước Skat và đến năm 1976
chính thức sản xuất robot dưới nước đầu tiên mang tên Skat-geo. Năm 1978,
Skat-geo được thử nghiệm thành công tại biển Trắng, sau đó nó được cải tiến và
sử dụng tại Thái Bình Dương, vùng Viễn Đông vào những năm 1991-1992. Từ đó đến
nay, Nga còn thiết kế và sản xuất nhiều loại robot dưới nước khác có khả năng
hoạt động ở độ sâu 4.200-4.600m. Dù vậy, Bộ Quốc phòng Nga vẫn không mua robot
dưới nước của Nga vì cho rằng chúng nặng và quá cồng kềnh. Động thái này buộc
các hãng sản xuất robot dưới nước của Nga phải nhanh chóng cải tiến sản phẩm của
mình. Nếu không, họ sẽ bị gạt ra khỏi "cuộc chơi" không chỉ trong lĩnh vực quân
sự mà cả dân sự nữa.
| Hãng Hafmynd của Iceland phối hợp với Đại học Tổng hợp Iceland bắt đầu thiết kế robot dưới nước từ năm 1997. Quốc gia này không có công nghiệp điện tử nên các linh kiện như chip, các bộ điều khiển... phải nhập về. Đến năm 2000, robot đầu tiên được bán cho một hãng của Iceland, sau đó các hãng khác và giới chức quân sự bắt đầu quan tâm đến loại robot này. Do Iceland bán khá chạy robot dưới nước nên các nhà sản xuất tại các quốc gia khác đã chú ý tới mặt hàng này. Năm 2010, Hafmynd bị Teledyne Benthos (chi nhánh của Tập đoàn Teledyne Technologies, Mỹ) mua lại và hiện là công ty con của Teledyne Gavia. Do vậy dù hoạt động tại Iceland, nhưng hãng này vẫn thuộc của Mỹ. |
Ông Vương
Hoàng
Nhận xét
Đăng nhận xét